Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (thơ song thất lục bát) lớp 9

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (thơ song thất lục bát) lớp 9

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (thơ song thất lục bát) lớp 9 dưới đây sẽ giúp các em viết được những bài văn đúng yêu cầu, đầy đủ luận điểm và làm nổi bật giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Qua hướng dẫn cụ thể về cách tìm ý, lập dàn ý, lựa chọn và phân tích dẫn chứng, triển khai các luận điểm, các em sẽ dễ dàng nắm vững phương pháp làm bài và vận dụng hiệu quả khi gặp dạng đề này.

Mời các em tham khảo!

I. Kiến thức cần nhớ khi viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học

Phân tích tác phẩm văn học là làm rõ những nét đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Khi viết bài văn phân tích một tác phẩm thơ song thất lục bát, người viết cần vừa chỉ ra được những tâm tư, tình cảm, nỗi niềm, khát vọng… được thể hiện trong bài thơ, vừa phân tích những phương diện nghệ thuật nổi bật đã góp phần thể hiện nội dung ấy.

Đặc biệt, bài viết không nên tách rời hoàn toàn nội dung và nghệ thuật. Khi phân tích một câu thơ, khổ thơ hoặc phần thơ, cần kết hợp hai phương diện để thấy được sự hòa quyện giữa nội dung và hình thức nghệ thuật.

II. Yêu cầu đối với bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (thơ song thất lục bát) lớp 9

Phân tích tác phẩm văn học là làm rõ những nét đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Ở bài học này, em sẽ được thực hành viết bài văn phân tích một tác phẩm thơ song thất lục bát, qua đó vừa củng cố kĩ năng đọc hiểu thể loại này, vừa tiếp tục phát triển kĩ năng viết bài nghị luận với đối tượng cụ thể là thơ song thất lục bát.

Yêu cầu:

– Giới thiệu khái quát về tác phẩm thơ song thất lục bát (tên tác phẩm, tên tác giả), nêu được nhận định chung của người viết về tác phẩm.

– Làm rõ được nội dung chủ đề của tác phẩm.

– Phân tích được những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm (vần, nhịp, từ ngữ, biện pháp tu từ,…) và hiệu quả thẩm mĩ của chúng; tập trung vào một số yếu tố nghệ thuật nổi bật của tác phẩm.

– Triển khai được hệ thống luận điểm chặt chẽ; sử dụng lí lẽ, bằng chứng xác đáng từ tác phẩm để làm sáng tỏ ý kiến nêu trong bài viết.

III. Hướng dẫn viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (thơ song thất lục bát)

1. Trước khi viết

a. Lựa chọn đề tài

– Nhớ lại các tác phẩm thơ song thất lục bát mà em đã học hoặc đã đọc, chẳng hạn: Ai tư vãn (Lê Ngọc Hân), Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến), Hai chữ nước nhà (Trần Tuấn Khải), Đêm khuya tự tình với sông Hương (Hàn Mặc Tử), Tiếng đàn mưa (Bích Khê), Nỗi niềm chinh phụ (Đặng Trần Côn)… Chọn trong số đó một tác phẩm em cảm thấy thú vị, có nhiều xúc cảm để phân tích.

– Mục đích viết: Làm rõ những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm thơ song thất lục bát.

– Người đọc: Những người quan tâm, có nhu cầu tìm hiểu về thể thơ song thất lục bát và tác phẩm thơ được phân tích.

b. Tìm ý

Để tìm ý cho bài văn phân tích một tác phẩm thơ song thất lục bát, em cần thực hiện các bước sau:

– Tìm hiểu thông tin về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm (nếu có) và những thông tin khác có liên quan để viết phần Mở bài và liên hệ, mở rộng khi phân tích. Ví dụ: Bài viết tham khảo đã sử dụng các thông tin về tác giả Hồ Dzếnh và một số câu thơ trong bài Nhớ đồng của Tố Hữu.

– Xác định bố cục của tác phẩm và nội dung chính của từng phần. Ví dụ: Bài thơ Trưa vắng gồm 5 khổ thơ, mỗi khổ thể hiện một nội dung cụ thể. Bài viết tham khảo đã phân tích lần lượt từng khổ thơ.

– Xác định những nỗi niềm tâm tư, xúc cảm chủ đạo trong tác phẩm. Ví dụ: Bài thơ Trưa vắng là tâm sự của tác giả khi hồi tưởng những kỉ niệm về thời còn đi học.

– Tìm hiểu các yếu tố nghệ thuật mà tác giả đã sử dụng để truyền tải nội dung chủ đề như đặc điểm của thể thơ song thất lục bát (vần, nhịp,…), từ ngữ (đặc biệt là các từ ngữ chỉ xúc cảm, trong đó có cả từ tượng thanh, từ tượng hình,…), biện pháp tu từ (điệp thanh, điệp vần, so sánh, ẩn dụ),… Ví dụ: Trong bài tham khảo, cách sử dụng dấu chấm lửng, thủ pháp đối, câu hỏi tu từ,… của bài thơ Trưa vắng đã được khai thác để làm rõ những nội dung tác giả muốn thể hiện.

Nghị luận về một tác phẩm thơ song thất lục bát, bài viết nên kết hợp phân tích nội dung và nghệ thuật để làm rõ sự hô ứng, hòa quyện của hai phương diện này trong cùng một (hoặc một nhóm) câu thơ. Việc triển khai bài viết sẽ thuận lợi hơn khi lần lượt phân tích theo trình tự các phần của tác phẩm thơ.

c. Lập dàn ý

Tổ chức, sắp xếp các ý đã tìm được ở trên thành một dàn ý chặt chẽ, hợp lí, gồm các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.

+ Dàn ý

– Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác phẩm thơ song thất lục bát (nhan đề, tên tác giả) và nêu ý kiến chung về tác phẩm.

– Thân bài: Lần lượt phân tích các phần theo bố cục tác phẩm:

– Phần 1 (từ câu… đến câu…): phân tích những tâm tư, nỗi niềm, khát vọng,… và một số nét đặc sắc về nghệ thuật.

– Phần 2 (từ câu… đến câu…): phân tích những tâm tư, nỗi niềm, khát vọng,… và một số nét đặc sắc về nghệ thuật.

– …

Ngoài cách phân tích tác phẩm theo bố cục, có thể phân tích theo cách lần lượt đi từ nội dung đến hình thức nghệ thuật hoặc ngược lại.

– Kết bài: Khẳng định ý nghĩa, giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

IV. Viết bài

Việc thực hiện bài viết đòi hỏi triển khai đầy đủ các ý đã có trong dàn ý. Mỗi ý trong phần Thân bài nên được viết thành một đoạn văn. Khi viết, lựa chọn những từ ngữ chính xác, phù hợp, thể hiện được quan điểm và tình cảm của người viết, tránh sử dụng những từ ngữ sáo rỗng, cầu kì. Nên sử dụng hiệu quả các thông tin ngoài tác phẩm (nếu có), giúp cho việc phân tích các giá trị của tác phẩm được rõ ràng, nổi bật hơn.

Lưu ý: Với trường hợp tác phẩm thơ dài, có thể chỉ trích dẫn ở mỗi phần những câu thơ, đoạn thơ quan trọng và phân tích sâu. Tuỳ điều kiện, thời gian làm bài để có cách xử lí thích hợp.

V. Chỉnh sửa bài viết

Đọc lại bài viết, căn cứ vào yêu cầu đối với bài văn phân tích một tác phẩm thơ song thất lục bát và dàn ý đã lập, rà soát các phần để chỉnh sửa. Việc chỉnh sửa có thể thực hiện theo gợi ý ở bảng sau:

Yêu cầu Gợi ý chỉnh sửa
Kiểm tra việc triển khai dàn ý – Rà soát xem đã triển khai đầy đủ các ý chưa, nếu thiếu thì phải bổ sung.
– Rà soát xem bài viết đã phân tích các giá trị nội dung và nghệ thuật (đặc biệt là đã khai thác những đặc điểm của thể thơ song thất lục bát) của tác phẩm chưa. Nếu thiếu thì phải bổ sung.
– Đối chiếu quy mô và dung lượng thông tin giữa các ý. Nếu chưa cân đối thì cần điều chỉnh.
Rà soát lỗi chính tả và diễn đạt Chỉnh sửa các lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, tạo lập đoạn văn và văn bản (nếu có).

VI. Bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (thơ song thất lục bát) lớp 9 mẫu

Bài văn mẫu số 1: Viết bài văn nghị luận phân tích bài thơ Nỗi niềm chinh phụ

Trong văn học trung đại, Chinh phụ ngâm là tác phẩm viết sâu sắc về nỗi lòng của người phụ nữ có chồng ra trận. Tác phẩm nguyên tác của Đặng Trần Côn, bản dịch được ghi là của Đoàn Thị Điểm, đã diễn tả tinh tế những cung bậc tâm trạng của người chinh phụ trong cảnh xa cách. Đoạn trích Nỗi niềm chinh phụ – Buổi tiễn đưa tập trung khắc họa thời khắc người chinh phụ tiễn chồng lên đường chinh chiến. Qua thể thơ song thất lục bát giàu nhạc điệu, hình ảnh giàu sức gợi và những biện pháp nghệ thuật đặc sắc, đoạn trích đã thể hiện nỗi lưu luyến, cô đơn, nhớ thương và đau đớn của đôi vợ chồng khi phải chia lìa.

Ngay từ những câu thơ đầu, cuộc chia tay đã diễn ra trong không khí vừa gấp gáp vừa nghẹn ngào:

Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống,

Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay.

Hà lương chia rẽ đường này,

Bên đường trông bóng cờ bay ngùi ngùi.

“Tiếng nhạc ngựa” hòa lẫn với “tiếng trống” gợi lên âm thanh của đoàn quân đang chuẩn bị lên đường. Giữa khung cảnh ấy, cuộc chia tay đến quá nhanh: “Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay”. Từ “bỗng” diễn tả sự đột ngột của phút biệt li. Mới vừa được nhìn thấy nhau, chinh phu và chinh phụ đã phải mỗi người một ngả. Cụm từ “chia rẽ” càng nhấn mạnh khoảng cách bắt đầu xuất hiện giữa hai người. Người chinh phụ đứng bên đường dõi theo “bóng cờ bay” với tâm trạng “ngùi ngùi”. Cảnh vật vốn là hình ảnh của đoàn quân lên đường nhưng qua đôi mắt người vợ lại nhuốm màu buồn thương. Bốn câu thơ mở đầu vì thế vừa dựng lên cảnh tiễn đưa, vừa mở ra thế giới nội tâm đầy lưu luyến của người chinh phụ.

Đoàn quân càng đi xa, khoảng cách giữa người đi và người ở lại càng lớn:

Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu,

Kị sau còn khuất nẻo Tràng Dương.

Quân đưa chàng ruổi lên đường,

Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?

Những địa danh, không gian “doanh Liễu”, “Tràng Dương” khiến con đường ra trận hiện lên xa xôi. Động từ “ruổi” gợi bước đi nhanh, liên tục của đoàn quân, như thể thời gian chẳng chờ đợi người chinh phụ thêm một phút nào. Đáng chú ý nhất là câu hỏi: “Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?”. “Đoạn trường” là nỗi đau như đứt từng khúc ruột, cho thấy sự chia lìa đã gây nên một nỗi đau sâu sắc trong lòng người ở lại. Câu hỏi không nhằm tìm kiếm một câu trả lời mà như lời tự hỏi, lời than của người vợ trong phút tiễn chồng. Qua đó, nỗi lưu luyến ban đầu đã chuyển thành nỗi đau đớn khi nàng nhận ra người mình yêu thương đang ngày một xa mình.

Bóng dáng người chồng tiếp tục mờ dần trong không gian:

Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng,

Hàng cờ bay trông bóng phất phơ.

Dấu chàng theo lớp mây đưa,

Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.

Ở đây, tác giả sử dụng cả âm thanh và hình ảnh để khắc họa sự xa cách. “Tiếng địch” chỉ còn nghe “chừng đồng vọng”, “hàng cờ” chỉ còn là những bóng “phất phơ”. Nếu ở đầu đoạn trích người chinh phụ còn có thể nhìn thấy đoàn quân khá rõ thì giờ đây hình bóng người chồng dường như đã hòa vào “lớp mây đưa”. Khoảng cách cứ thế được kéo dài. Người chinh phụ chỉ còn biết nhìn theo “rặng núi” trong trạng thái “ngẩn ngơ”. Hai chữ “ngẩn ngơ” diễn tả rất tinh tế sự trống vắng, hụt hẫng của con người vừa phải chia xa người thân yêu. Cảnh vật càng mờ xa thì nỗi buồn trong lòng nàng càng trở nên rõ nét.

Cuộc chia tay thực sự trở thành chia lìa khi hai con người phải đi về hai hướng:

Chàng thì đi cõi xa mưa gió,

Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.

Đoái trông theo đã cách ngăn,

Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh.

Hai câu thơ “Chàng thì đi…” và “Thiếp thì về…” tạo nên thế đối lập rõ rệt. Một bên là “chàng” phải đi vào “cõi xa mưa gió”, một bên là “thiếp” trở về với “buồng cũ chiếu chăn”. Những từ ngữ sóng đôi “chàng – thiếp”, “đi – về” không chỉ nói về hai hướng di chuyển trái ngược mà còn khắc sâu bi kịch chia lìa của đôi vợ chồng. Đặc biệt, hình ảnh “buồng cũ chiếu chăn” gợi một không gian vốn thuộc về cuộc sống lứa đôi, nay chỉ còn người chinh phụ trở về một mình. Vì thế, căn phòng quen thuộc càng làm nổi bật sự trống trải và cô đơn.

Không gian thiên nhiên cũng mở rộng theo nỗi chia xa. “Mây biếc”, “núi xanh” trải dài trước mắt, đẹp nhưng mênh mông, cách trở. Thiên nhiên ở đây không chỉ được dùng để miêu tả cảnh vật mà còn góp phần diễn tả tâm trạng. Khoảng cách của núi, của mây cũng chính là khoảng cách đang ngày một lớn giữa người đi và người ở lại. Cách viết ấy khiến cảnh và tình hòa quyện với nhau, nỗi buồn dường như lan từ lòng người ra cả không gian.

Dẫu khoảng cách ngày càng xa, cả hai vẫn không thôi ngoảnh lại tìm nhau:

Chốn Hàm Kinh chàng còn ngoảnh lại,

Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.

Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,

Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.

“Chàng còn ngoảnh lại”, “thiếp hãy trông sang” là hai hành động tương ứng, cho thấy cả người ra đi lẫn người ở lại đều lưu luyến, không nỡ rời xa. Nếu trước đó đoạn thơ tập trung nhiều hơn vào cảm xúc của người chinh phụ thì đến đây, tình cảm của hai người được đặt trong thế song hành. Chàng nhớ thiếp, thiếp cũng nhớ chàng; người đi ngoảnh lại, người ở lại trông theo.

Nhưng càng nhìn, họ càng nhận ra sự cách trở. Điệp lại những địa danh “Tiêu Tương”, “Hàm Dương” cùng các từ “cách”, “mấy trùng” khiến khoảng cách dường như chồng chất lên nhau. Không gian nghệ thuật vì thế được mở rộng đến mênh mông. Hai con người cùng hướng về nhau nhưng giữa họ là khói, là cây, là tầng tầng khoảng cách. Qua cách tổ chức những hình ảnh đối xứng ấy, tác giả không chỉ diễn tả khoảng cách địa lí mà còn khiến người đọc cảm nhận được nỗi đau tinh thần do cảnh biệt li gây nên.

Nỗi buồn chia cách được đẩy đến cao trào trong bốn câu thơ cuối:

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.

Ngàn dâu xanh ngắt một màu,

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

“Cùng trông lại” cho thấy một sự đồng điệu sâu sắc: dù đã cách xa, hai người vẫn cùng hướng ánh mắt về phía nhau. Thế nhưng nghịch cảnh nằm ở hai chữ “chẳng thấy”. Muốn nhìn mà không thể thấy, muốn gần mà phải xa, muốn đoàn tụ mà buộc phải chia lìa. Chính sự đối lập ấy khiến nỗi đau của cuộc chia tay trở nên day dứt hơn.

Đặc biệt, màu xanh xuất hiện liên tiếp qua “xanh xanh” và “xanh ngắt”. Bình thường, màu xanh có thể gợi sức sống nhưng trong hoàn cảnh chia li này, sắc xanh trải dài của “mấy ngàn dâu” lại gợi một không gian mênh mông đến vô tận. Điệp từ “thấy” trong “chẳng thấy – thấy xanh xanh” cũng rất giàu ý nghĩa: con người mà họ mong nhìn thấy thì không còn thấy nữa, trước mắt chỉ còn một màu xanh xa ngút. Hình ảnh “ngàn dâu” vì thế vừa là cảnh thực trước mắt vừa góp phần cụ thể hóa khoảng cách và nỗi buồn chia lìa.

Đoạn thơ kết thúc bằng câu hỏi:

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

Đây không phải câu hỏi để phân định xem người nào đau khổ hơn. Câu hỏi tu từ cho thấy nỗi buồn của cả hai đã sâu sắc đến mức khó có thể đo đếm. “Lòng chàng” và “ý thiếp” cùng hướng về nhau, cùng mang một nỗi sầu chia cách. Cách kết thúc bằng câu hỏi khiến cảm xúc không khép lại mà còn tiếp tục ngân vang trong lòng người đọc. Nỗi sầu ấy dường như kéo dài theo chính màu xanh vô tận của ngàn dâu.

Không chỉ đặc sắc về nội dung, Nỗi niềm chinh phụ – Buổi tiễn đưa còn gây ấn tượng bởi nghệ thuật biểu đạt tinh tế. Thể thơ song thất lục bát, với sự kết hợp giữa hai câu bảy tiếng và một cặp lục bát, tạo nên âm điệu vừa dồn nén vừa ngân nga, đặc biệt phù hợp để diễn tả những cảm xúc buồn thương, lưu luyến. Nhịp thơ khi gấp gáp theo bước chân đoàn quân, khi chậm lại theo ánh mắt người chinh phụ, khi lại kéo dài theo không gian cách trở.

Ngôn ngữ đoạn thơ giàu sức gợi; các từ ngữ chỉ trạng thái như “ngùi ngùi”, “đoạn trường”, “ngẩn ngơ”, “sầu” trực tiếp khắc họa những cung bậc khác nhau của nỗi buồn. Bên cạnh đó là hàng loạt hình ảnh không gian như mây, núi, khói, cây, ngàn dâu… Càng về cuối, không gian càng được mở rộng, trong khi bóng dáng con người càng xa khuất. Cách tổ chức ấy làm cho sự chia lìa như mỗi lúc một sâu thêm.

Đặc biệt, đoạn trích sử dụng hiệu quả phép đối và điệp. “Chàng thì đi – thiếp thì về”, “chàng còn ngoảnh lại – thiếp hãy trông sang”, “Hàm Dương – Tiêu Tương”, “lòng chàng – ý thiếp” tạo nên hai phía song song của cuộc biệt li. Hai người bị chia cắt về không gian nhưng lại thống nhất trong tình cảm. Chính nghệ thuật đối xứng ấy làm nổi bật nghịch lí đau xót: càng yêu thương, càng hướng về nhau thì sự xa cách càng trở nên đau đớn.

Mạch cảm xúc của đoạn trích cũng được triển khai rất tự nhiên. Từ phút “bỗng chia tay”, người chinh phụ dõi theo đoàn quân mỗi lúc một xa; từ còn nhìn thấy “bóng cờ”, nàng chỉ còn thấy “lớp mây”, “rặng núi”, rồi cuối cùng là “ngàn dâu xanh ngắt”. Cảnh càng xa, tình càng sâu; hình bóng người chồng càng khuất, nỗi nhớ của người vợ càng hiện rõ. Qua đó, tác giả đã biến một cuộc tiễn đưa thành một bức tranh tâm trạng đầy sức ám ảnh.

Nỗi niềm chinh phụ – Buổi tiễn đưa đã diễn tả sâu sắc nỗi đau chia lìa, sự lưu luyến và tình cảm gắn bó của đôi vợ chồng trong phút tiễn đưa. Qua tiếng lòng của người chinh phụ, người đọc cảm nhận được khát vọng rất đỗi bình dị mà tha thiết của con người: được yêu thương, được gần gũi và sống hạnh phúc bên người mình yêu. Thể thơ song thất lục bát giàu nhạc điệu, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, phép đối, điệp từ, câu hỏi tu từ cùng hệ thống hình ảnh giàu sức gợi đã góp phần làm nên sức lay động của đoạn trích. Khép lại bằng câu hỏi “Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”, bài thơ không khép lại nỗi buồn mà để nỗi sầu biệt li tiếp tục ngân dài, khiến người đọc càng thêm trân trọng tình yêu, hạnh phúc lứa đôi và sự sum họp của con người.

Tâm trạng của người chinh phụ trong buổi tiễn đưa (Ảnh minh họa)
Tâm trạng của người chinh phụ trong buổi tiễn đưa (Ảnh minh họa)

Bài văn nghị luận mẫu số 2: Phân tích bài thơ Tiếng Đàn Mưa của Bích Khê

Bích Khê là một nhà thơ có phong cách nghệ thuật giàu cảm xúc, đặc biệt chú trọng đến nhạc điệu và khả năng gợi cảm của ngôn từ. Trong thế giới thơ ông, cảnh vật không chỉ được nhìn bằng mắt mà dường như còn được cảm nhận bằng cả âm thanh và những rung động tinh tế của tâm hồn. Tiếng Đàn Mưa là một bài thơ tiêu biểu cho nét đặc sắc ấy. Qua hình ảnh cơn mưa xuân cùng tiếng mưa rơi triền miên trên nhiều không gian khác nhau, nhà thơ đã diễn tả nỗi buồn cô đơn, nhớ thương của người khách xa quê. Với thể thơ song thất lục bát giàu nhạc tính, cách sử dụng điệp từ, đảo trật tự từ ngữ cùng những hình ảnh giàu sức gợi, bài thơ khiến tiếng mưa của thiên nhiên dần hóa thành tiếng đàn của tâm trạng, rồi cuối cùng trở thành những giọt lệ của người tha hương.

Bài thơ mở ra bằng một không gian mùa xuân ngập trong tiếng mưa:

Mưa hoa rụng, mưa hoa xuân rụng

Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan

Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn

Nước non rả rích giọng đàn mưa xuân.

Từ “mưa” xuất hiện liên tiếp ngay trong những câu thơ đầu tiên. Mưa làm “hoa rụng”, mưa “xuống lầu”, “xuống thềm lan”, rồi mưa lại “rơi ngoài nẻo dặm ngàn”. Điệp từ “mưa” kết hợp với sự lặp lại của từ “rụng”, “xuống”, “rơi” tạo cảm giác những hạt mưa xuất hiện ở khắp nơi, từ không gian gần đến không gian xa. Cơn mưa vì thế không còn được cảm nhận tại một địa điểm cụ thể mà như đang bao phủ cả “nước non”.

Đặc biệt, câu thơ “Nước non rả rích giọng đàn mưa xuân” đã biến âm thanh của mưa thành “giọng đàn”. Từ láy “rả rích” vừa gợi tiếng mưa nhỏ đều, kéo dài không dứt, vừa tạo nên âm hưởng buồn man mác. Mưa vốn chỉ là hiện tượng của thiên nhiên nhưng qua cảm nhận của thi nhân đã trở thành một bản nhạc. Tiếng mưa chính là tiếng đàn của đất trời. Ngay từ khổ thơ đầu, thiên nhiên vì thế hiện lên vừa có hình ảnh, vừa có âm thanh, mang vẻ đẹp dịu dàng nhưng phảng phất nỗi buồn.

Nếu khổ thơ đầu chủ yếu mở ra bức tranh mưa xuân thì sang khổ thứ hai, tiếng mưa bắt đầu đi sâu vào tâm hồn con người:

Lầu mưa xuống, thềm lan mưa xuống

Cùng nước non hoa rụng mưa xuân

Mưa rơi ngoài nội trên ngàn

Nghe trong ý khách giọt đàn mưa rơi.

Những hình ảnh “lầu”, “thềm lan”, “nước non”, “hoa”, “mưa xuân” tiếp tục xuất hiện nhưng được sắp xếp theo một trật tự khác. Nếu trước đó là “Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan” thì ở đây lại thành “Lầu mưa xuống, thềm lan mưa xuống”. Sự đảo đổi vị trí của các từ ngữ vừa tránh cảm giác đơn điệu, vừa tạo nên sự luân chuyển liên tục của âm thanh và hình ảnh. Mưa dường như lúc gần, lúc xa, khi rơi trước mắt, khi vọng lại từ “ngoài nội trên ngàn”.

Cách lặp lại từ ngữ và hình ảnh còn tạo nên nhạc tính đặc biệt cho những câu thơ. Đọc lên, người đọc có cảm giác như đang nghe những âm thanh giống nhau của một bản nhạc được lặp lại với những biến đổi tinh tế. Đây cũng chính là điểm phù hợp với nhan đề Tiếng Đàn Mưa: bản thân câu thơ đã mang nhịp điệu của những hạt mưa đang rơi.

Đáng chú ý nhất là câu:

Nghe trong ý khách giọt đàn mưa rơi.

Đến đây, tiếng mưa không còn chỉ vang lên ở thiên nhiên bên ngoài. Nó đã đi vào “ý khách”, tức thế giới nội tâm của con người. Cách gọi “giọt đàn” rất giàu sức gợi. Mưa có thể nhìn thấy bằng những “giọt”, còn tiếng đàn lại được cảm nhận bằng thính giác. Hai cảm giác ấy hòa vào nhau khiến giọt mưa dường như mang theo âm thanh, còn tiếng đàn dường như có hình dáng. Thiên nhiên và lòng người bắt đầu gặp gỡ: tiếng mưa bên ngoài đánh thức những rung động đang ẩn sâu trong tâm hồn người khách.

Mạch cảm xúc ấy tiếp tục được mở rộng ở khổ thơ thứ ba:

Đầm mưa xuống nẻo đồi mưa xuống

Bóng dương tà rụng bóng tà dương

Hoa xuân rơi với bóng dương

Mưa trong ý khách mưa cùng nước non.

Không gian của mưa lại tiếp tục trải rộng qua “đầm”, “nẻo đồi” và “nước non”. Cơn mưa như phủ lên toàn bộ cảnh vật. Tuy nhiên, bên cạnh mưa và hoa, ở khổ thơ này còn xuất hiện “bóng dương tà” – ánh chiều đang dần tắt. Cách diễn đạt “Bóng dương tà rụng bóng tà dương” đặc biệt giàu sức gợi. “Rụng” vốn thường được dùng để nói về hoa, lá, nhưng ở đây lại được dùng với “bóng dương”. Ánh chiều vì thế dường như cũng có hình khối và đang rơi xuống cùng với hoa xuân.

Hai câu:

Bóng dương tà rụng bóng tà dương

Hoa xuân rơi với bóng dương

đặt “hoa xuân” và “bóng dương” bên nhau. Hoa rơi, ánh chiều cũng “rụng”, khiến cảnh vật mang cảm giác phai tàn. Mùa xuân vốn thường gợi sức sống, nhưng mùa xuân trong Tiếng Đàn Mưa lại có hoa rụng, mưa rơi và bóng chiều dần tắt. Chính sự kết hợp ấy đã khiến bức tranh thiên nhiên ngày càng nhuốm màu buồn.

Đến câu “Mưa trong ý khách mưa cùng nước non”, ranh giới giữa ngoại cảnh và nội tâm gần như không còn. Ngoài trời có mưa, trong “ý khách” cũng có mưa. Cơn mưa của thiên nhiên đã trở thành cơn mưa của lòng người. Cách lặp lại từ “mưa” vừa nối kết hai thế giới, vừa cho thấy tâm trạng của con người đã hòa vào cảnh vật. Có thể nói, đến đây, nhà thơ không còn chỉ tả mưa mà đang mượn mưa để nói hộ lòng người.

Nếu ba khổ thơ đầu từng bước đưa tiếng mưa từ thiên nhiên vào tâm trạng thì khổ thơ cuối cùng làm sáng rõ hoàn toàn nỗi niềm ấy:

Rơi hoa hết mưa còn rả rích

Càng mưa rơi càng tịch bóng dương

Bóng dương với khách tha hương

Mưa trong ý khách muôn hàng lệ rơi.

Hoa rồi cũng rụng hết nhưng mưa vẫn “rả rích”. Sự đối lập giữa “hoa hết” và “mưa còn” gợi cảm giác nỗi buồn dường như không có điểm dừng. Từ “rả rích” ở khổ đầu được lặp lại ở đây tạo nên sự tương ứng giữa mở đầu và kết thúc bài thơ. Tiếng mưa vẫn như vậy, nhưng cảm xúc mà nó mang theo đã thay đổi. Nếu ban đầu đó còn là “giọng đàn mưa xuân” của thiên nhiên thì giờ đây âm thanh ấy đã thấm đầy nỗi buồn của con người.

Nỗi buồn càng trở nên sâu hơn trong câu:

Càng mưa rơi càng tịch bóng dương.

Cấu trúc “càng… càng…” cho thấy mưa càng rơi thì không gian càng trở nên vắng lặng. “Bóng dương” vốn đã gợi buổi chiều tàn, nay lại gắn với chữ “tịch”, khiến cảnh vật chìm sâu vào sự cô quạnh. Giữa không gian ấy xuất hiện hình ảnh “khách tha hương” – người đang sống xa quê. Đến đây, nguyên nhân sâu xa của những rung động trước tiếng mưa mới được hé lộ. Người khách không chỉ buồn trước cảnh mưa mà còn mang trong lòng nỗi cô đơn, nhớ quê của một người đang ở nơi đất khách.

Cảm xúc của cả bài được dồn tụ vào câu cuối:

Mưa trong ý khách muôn hàng lệ rơi.

Mưa và nước mắt đã hòa vào nhau. “Mưa trong ý khách” không còn đơn thuần là cơn mưa được ghi nhận bằng giác quan mà đã trở thành hình ảnh của nỗi buồn. Cụm từ “muôn hàng lệ rơi” cho thấy cảm xúc dâng lên mãnh liệt, tưởng như không thể kìm giữ. Từ tiếng mưa bên ngoài đến “giọt đàn” trong tâm tưởng và cuối cùng là “hàng lệ”, mạch thơ đã diễn tả một quá trình vận động rất tự nhiên của cảm xúc: mưa của trời → tiếng đàn của lòng → nước mắt của người tha hương. Chính sự chuyển hóa ấy tạo nên chiều sâu cho bài thơ.

Không chỉ hấp dẫn bởi nội dung, Tiếng Đàn Mưa còn gây ấn tượng bởi hình thức nghệ thuật giàu nhạc tính. Bài thơ được viết theo thể song thất lục bát, mỗi khổ gồm hai câu bảy tiếng tiếp nối bằng một cặp câu lục bát. Sự kết hợp giữa những câu thơ dài ngắn khác nhau cùng cách gieo vần tạo nên âm điệu khi dồn dập, khi ngân dài, rất phù hợp với việc tái hiện tiếng mưa lúc gần, lúc xa, lúc rơi đều đặn, lúc như vang lên trong tâm tưởng.

Đặc biệt, tác giả sử dụng với mật độ cao những từ ngữ “mưa”, “rơi”, “rụng”, “xuống”, “bóng dương”, “nước non”, “ý khách”. Sự lặp lại ấy không gây đơn điệu mà trái lại tạo nên một mạng lưới âm thanh và hình ảnh liên kết chặt chẽ. Chỉ riêng từ “mưa” đã trở thành âm thanh chủ đạo chạy xuyên suốt bài thơ. Cách đảo đổi trật tự như “Mưa xuống lầu” – “Lầu mưa xuống”, “bóng dương tà” – “bóng tà dương” cũng khiến ngôn ngữ thơ có cảm giác xoay vòng, quấn lấy nhau như những đợt mưa nối tiếp không dứt.

Bài thơ còn thành công ở nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Cảnh vật thay đổi cùng với diễn biến tâm trạng: ban đầu là mưa xuân rơi trên hoa, lầu, thềm lan; sau đó không gian mở ra ngoài nội, trên ngàn, đầm và đồi; cuối cùng cảnh vật chìm trong bóng chiều và nỗi cô tịch của người khách tha hương. Cảnh càng về cuối càng vắng, mưa càng rơi thì nỗi buồn càng sâu. Thiên nhiên vì thế trở thành phương tiện để thi sĩ biểu hiện những trạng thái tinh tế của tâm hồn.

Mạch vận động của hình ảnh cũng được tổ chức rất chặt chẽ. Từ “hoa rụng” → “mưa rơi” → “bóng dương rụng” → “lệ rơi”, các hình ảnh liên tục hướng xuống, tạo nên cảm giác buồn và phai tàn. Đồng thời, từ “giọng đàn mưa xuân” ở khổ đầu đến “giọt đàn mưa rơi” rồi “mưa trong ý khách” và cuối cùng là “muôn hàng lệ rơi”, tiếng mưa từng bước đi từ ngoại cảnh vào tận chiều sâu tâm hồn. Nhờ đó, nội dung và nghệ thuật không tách rời mà hòa quyện, cùng góp phần thể hiện nỗi niềm của nhân vật trữ tình.

Tiếng Đàn Mưa vì thế không chỉ là một bài thơ miêu tả cảnh mưa. Qua tiếng mưa xuân “rả rích”, Bích Khê đã diễn tả tinh tế nỗi cô đơn và niềm thương nhớ của người khách tha hương. Thể thơ song thất lục bát giàu nhạc điệu, điệp từ, đảo ngữ, cách tổ chức hình ảnh cùng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đã biến những giọt mưa thành những nốt nhạc của tâm hồn. Đặc biệt, sự chuyển hóa từ “giọng đàn mưa xuân” đến “muôn hàng lệ rơi” khiến nỗi buồn mỗi lúc một sâu hơn. Khép lại bài thơ, tiếng mưa dường như vẫn chưa ngừng rơi, cũng như nỗi niềm của người xa quê vẫn còn ngân mãi trong lòng người đọc.

Tác phẩm Tiếng đàn mưa (Ảnh minh họa)
Tác phẩm Tiếng đàn mưa (Ảnh minh họa)

Hy vọng phần hướng dẫn viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (thơ song thất lục bát) lớp 9 ở trên đã giúp các em nắm vững yêu cầu, cách tìm ý, lập dàn ý và triển khai bài viết hoàn chỉnh. Từ đó, các em có thể vận dụng linh hoạt để phân tích những tác phẩm thơ song thất lục bát khác, làm nổi bật cả giá trị nội dung và nét đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm.

Để hệ thống lại kiến thức và rèn luyện thêm cách làm các dạng bài Tập làm văn lớp 9, cuốn Làm Chủ Ngữ Văn Lớp 9 Bằng Sơ Đồ Tư Duy – Luyện Thi Vào 10 Phần 2: Tiếng Việt – Tập Làm Văn của TKBooks sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích. Sách giúp các em ôn tập trực quan, dễ nhớ và từng bước nâng cao kỹ năng làm bài để tự tin chinh phục kỳ thi vào 10.

Link đọc thử sách: https://drive.google.com/file/d/1rNHaFCnRgOCdxSQ2nh_UIUGGZz7ooYpn/view?usp=sharing

Tkbooks tự hào là nhà xuất bản sách tham khảo lớp 9 hàng đầu tại Việt Nam!

Tkbooks.vn

Share

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *