Cách làm phần đọc hiểu văn bản kịch thi vào 10 môn Ngữ Văn

Cách làm phần đọc hiểu văn bản kịch thi vào 10 môn Ngữ Văn

Cách làm phần đọc hiểu văn bản kịch thi vào 10 môn Ngữ Văn là một trong những nội dung trọng tâm nhưng thường khiến học sinh lúng túng bởi tính đặc thù của thể loại. Để chinh phục trọn vẹn điểm số của phần này, việc nắm vững các kiến thức cốt lõi về bi kịch (như xung đột, nhân vật, hành động, lời thoại) và định hình rõ phương pháp xử lý từng dạng đề là vô cùng quan trọng.

Bài viết dưới đây sẽ hệ thống lại toàn bộ lý thuyết căn bản cùng hướng dẫn chi tiết các bước làm bài giúp các sĩ tử tự tin bứt phá trong kỳ thi sắp tới.

Mời các em tham khảo!

>>> Xem thêm:

Cách làm phần đọc hiểu thơ đề thi vào 10 môn Ngữ Văn

Cách làm phần đọc hiểu văn bản thông tin thi vào 10 môn Ngữ Văn

Cách làm đọc hiểu truyện ngắn thi vào 10 môn Ngữ Văn

Cách làm phần đọc hiểu văn bản nghị luận thi vào 10 môn Ngữ Văn

I. Củng cố kiến thức về phần đọc hiểu văn bản kịch (trọng tâm bi kịch)

Thành phầnĐặc điểm chi tiết
Khái niệm Bi kịch– Là một thể loại của kịch.

– Thể hiện xung đột không thể giải quyết giữa khát vọng cao đẹp của con người với tình thế bi đát của thực tại, dẫn đến sự thảm hại hay cái chết của nhân vật chính.

– Kết thúc bi thảm có ý nghĩa thức tỉnh, dự báo một cái gì đó tốt đẹp hơn sẽ nảy sinh.

Xung đột trong bi kịch– Là nhân tố tổ chức tác phẩm kịch, thể hiện sự va chạm, đấu tranh, loại trừ giữa các thế lực đối lập.

– Nảy sinh do mâu thuẫn giữa:

* cái thiện và cái ác

* cái cao cả và cái thấp hèn

* cái mới và cái cũ

* cái tiến bộ và cái bảo thủ

* những mặt khác nhau trong tính cách con người

* mong muốn chủ quan và điều kiện khách quan

* các giá trị khác nhau của đời sống…

Nhân vật của bi kịch– Dù là nhân vật chính hay nhân vật phụ đều hiện thân cho những thế lực đối lập trong xã hội.

– Nhân vật chính thường có:

* sức mạnh lớn lao, phẩm chất cao cả, mang trong mình những lí tưởng, khát vọng đẹp đẽ

* phải đối mặt với số phận nghiệt ngã, quyết định khó khăn, những sự không thuận lợi của hoàn cảnh

Hành động trong bi kịch– Là toàn bộ hoạt động của các nhân vật thông qua lời thoại, ngữ điệu, cử chỉ, biểu cảm…

– Tác dụng:

* thể hiện thế giới nội tâm, tình cảm của nhân vật

* kết nối sự kiện, làm nên sự phát triển của cốt truyện

– Gồm:

* hành động bên ngoài (lời nói, cử chỉ, động tác…)

* hành động bên trong (sự chuyển biến nội tâm, lời độc thoại nội tâm…)

Lời thoại trong bi kịch– Gồm đối thoại, độc thoại, bàng thoại.

– Thường thể hiện:

* sự căng thẳng, mâu thuẫn, giằng xé trong nội tâm nhân vật.

* có tính hùng biện, triết lí hoặc có tính chất mĩ lệ, trau chuốt…

Cốt truyện bi kịch– Là một chuỗi các sự kiện, biến cố trong câu chuyện kịch.

– Thường tuân theo quy tắc nhân quả, dẫn đến tổn thất, đau thương trong cuộc đời nhân vật chính.

II. Cách làm phần đọc hiểu văn bản kịch cho từng dạng câu hỏi chi tiết

1. Câu hỏi về xung đột kịch

DạngXác định xung đột kịch
Nhận diện câu hỏiHãy xác định xung đột kịch trong văn bản trên.
Cách làm:Bước 1: Đọc văn bản, xác định mâu thuẫn

– Đọc kĩ toàn bộ văn bản, chú ý vào những lời thoại thể hiện mâu thuẫn, xung đột, sự đối lập.

– Đó có thể là mâu thuẫn, xung đột giữa các nhân vật, giữa những suy nghĩ của cùng 1 nhân vật, giữa mong muốn và hoàn cảnh thực tế của nhân vật.

Bước 2: Khái quát hoá mâu thuẫn để xác định xung đột kịch

Xem xét mâu thuẫn đã xác định được ở bước 1 thuộc trường hợp nào trong các trường hợp sau:

  • mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác
  • mâu thuẫn giữa cái cao cả và cái thấp hèn
  • mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ
  • mâu thuẫn giữa cái tiến bộ và cái bảo thủ
  • mâu thuẫn giữa những mặt khác nhau trong tính cách con người
  • mâu thuẫn giữa mong muốn chủ quan và điều kiện khách quan
  • mâu thuẫn giữa các giá trị khác nhau của đời sống…

⇒  từ đó xác định xung đột kịch, thường là một trong các trường hợp trên.

Bước 3: Viết câu trả lời

Gợi ý câu trả lời

Xung đột kịch trong văn bản là xung đột giữa […] với […].

2. Câu hỏi về nhân vật trong văn bản kịch

DạngNhận xét về nhân vật
Nhận diện câu hỏi:– Em có nhận xét gì về nhân vật A thông qua lời thoại “[…]”?

– Từ lời thoại “[…]”, em có nhận xét gì về tư tưởng/ quan điểm sống/ suy nghĩ/ tính cách của nhân vật A?

– Em thấy nhân vật A là người như thế nào?

Cách làm:Bước 1: Xác định đặc điểm của nhân vật

– Đọc kĩ lời thoại/ đoạn văn bản mà đề yêu cầu.

– Lời thoại/ đoạn văn bản đó cho thấy nhân vật đang nghĩ gì? Đang cảm thấy như thế nào?

Bước 2: Nhận xét về tính cách nhân vật

– Xác định nhân vật đang ở trong hoàn cảnh nào?

– Ở trong hoàn cảnh như vậy, với những lời nói, suy nghĩ như vậy (như bước 1 đã xác định) thì nhân vật phải là người như thế nào?

Bước 3: Viết câu trả lời

Gợi ý câu trả lờiTuỳ vào cách hỏi của đề để viết câu trả lời phù hợp.

VD: Thông qua lời thoại trên, em thấy nhân vật A có suy nghĩ [nêu suy nghĩ, quan điểm của nhân vật được rút ra]. Từ đó, có thể thấy đây là một người [nhận xét về tính cách của nhân vật].

3. Câu hỏi về hành động kịch

DạngXác định và nhận xét về hành động kịch
Nhận diện câu hỏiXác định hành động kịch trong đoạn văn bản […]. Em có nhận xét gì về hành động đó?
Cách làm:Bước 1: Xác định hành động kịch

– Đọc kĩ đoạn văn bản, dựa vào nội dung lời thoại và chỉ dẫn sân khấu để xác định nhân vật đang làm gì, có cử chỉ ra sao, nói điều gì…? => hành động kịch.

– Mỗi hành động kịch có thể được diễn tả trực tiếp bằng chỉ dẫn sân khấu hoặc được thể hiện gián tiếp khi người đọc tưởng tượng, hình dung thông qua lời thoại của nhân vật.

Bước 2: Nhận xét về hành động kịch

– Xem xét những hành động kịch đã xác định ở bước 1 xem đó là hành động bên ngoài hay bên trong?

– Những hành động đó thể hiện điều gì về nhân vật? Xung đột kịch? Tư tưởng của tác giả?

Bước 3: Viết câu trả lời

Gợi ý câu trả lời:– Những hành động kịch trong đoạn văn bản là: [liệt kê từng hành động].

– Nhận xét: đây là những [hành động, cử chỉ bên ngoài/ sự chuyển biến nội tâm bên trong nhân vật], cho thấy [ý nghĩa của hành động đó].

4. Câu hỏi về lời thoại trong văn bản kịch

DạngLí giải, nêu cách hiểu về lời thoại
Nhận diện câu hỏi– Em hiểu như thế nào về câu nói “[…]” của nhân vật A?

– Vì sao nhân vật A lại nói: “[…]”?

Cách làm:Bước 1: Lí giải ý nghĩa của lời thoại

– Đọc kĩ lời thoại mà đề bài hỏi.

– Chia lời thoại thành các ý, các vế nhỏ ⇒ lần lượt giải nghĩa từng ý, từng vế ⇒ kết nối ý nghĩa các ý, các vế để rút ra ý nghĩa của cả câu hoặc của toàn bộ lời thoại.

Bước 2: Kết nối với ngữ cảnh

– Lời thoại đó của nhân vật nói ra trong hoàn cảnh nào?

– Ngữ cảnh đó có đem đến cách hiểu đặc biệt gì cho lời thoại không? Nếu có thì đó là cách hiểu như thế nào?

Bước 3: Viết câu trả lời

Trình bày lần lượt từng ý giải thích, đi từ cụ thể đến khái quát.

Gợi ý câu trả lời

Dựa vào cách hỏi của đề bài để viết câu trả lời.

VD: Em hiểu câu nói trên là:

+ Ý 1

+ Ý 2

Như vậy câu nói có ý nghĩa là […].

5. Câu hỏi về tư tưởng của tác giả trong văn bản kịch

DạngXác định tư tưởng của tác giả
Nhận diện câu hỏi– Xác định tư tưởng của tác giả được thể hiện trong văn bản.

– Cách giải quyết xung đột/ lời thoại của nhân vật A… cho thấy tư tưởng gì của tác giả?

Cách làmBước 1: Xác định vấn đề đặt ra

– Đọc kĩ văn bản/ lời thoại mà đề bài hỏi.

– Xác định vấn đề đặt ra từ văn bản/ lời thoại đó là gì? (vấn đề này thường là những vấn đề trong xã hội, trong các mối quan hệ…).

Bước 2: Xác định tư tưởng của tác giả

Xác định quan điểm của tác giả đối với vấn đề đó (vấn đề tìm được ở bước 1) là gì? Tác giả cho rằng điều gì là đúng, điều gì là sai? Điều gì nên – không nên? Điều gì cần trân trọng – điều gì đáng lên án?

Đó chính là tư tưởng của tác giả.

Bước 3: Viết câu trả lời

Gợi ý câu trả lời

Tư tưởng của tác giả được thể hiện qua văn bản/ qua lời thoại […] là: [nêu tư tưởng – viết bằng 1 câu khẳng định hoặc phủ định].

III. Ví dụ về cách làm phần đọc hiểu văn bản kịch thi vào 10 

Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu:

Tóm tắt vở kịch: Vở kịch tái hiện bối cảnh cuộc sống khốn cùng của người dân trước Cách mạng tháng Tám, dưới thời Pháp thuộc. Nhà ông lão mù trước kia vốn thuộc bậc trung lưu, đang sống trong yên ấm thì một trận hỏa hoạn xảy ra, khiến người vợ bị chết cháy, người chồng bị bỏng nặng, mù hai con mắt, gia đình rơi vào cảnh tán gia bại sản. Ông lão mù và vợ chồng người con trai phải mướn nhà của lão Thông Xạ để ở, kiếm ăn độ nhật qua ngày. Do thiếu tiền thuê nhà nên lão Thông Xạ năm lần bảy lượt đến đòi nợ và dọa sẽ đuổi cả nhà ra đường nếu không trả đủ tiền. Hôm ấy, lão Thông Xạ lại đến. Ông lão mù hẹn khi con dâu và con trai đi làm về sẽ gắng trả. Nhưng cô con dâu đi bán bánh trên tàu thì bị nhân viên soát vé đổ mất hàng, người con trai đi làm thì bị cai ăn chặn tiền lương. Nhà hết gạo, thuốc bệnh cho ông bố mù lòa cũng hết, ngày mai giỗ bà mẹ mà chưa biết lấy gì để cúng đơm. Lão Thông Xạ nhất quyết sẽ quay lại và không cho khất nợ thêm nữa. 

Cả gia đình rơi vào tình cảnh tuyệt vọng. Anh con trai phẫn uất làm càn, đi ăn trộm bị cảnh sát bắt. Ông lão mù tủi cực, nhân lúc cô con dâu đi ra ngoài, đã thắt cổ tự vẫn để không trở thành gánh nặng cho hai con. Cô con dâu trở về thấy cảnh tượng đó, ngã vật xuống đất, thái dương đập vào hòn đá mà ông bố dùng để chặn cửa, chết theo.

HỒI THỨ 2 – Cảnh I

Ông lão lòa, chị Cả Thuận, anh Cả Thuận. 

[…] 

ÔNG LÃO: – Thế chốc nữa lão Thông Xạ nó quay xe lại thì biết nói thế nào với nó đây? Thôi hai con nghe thầy, nên lánh mặt nó đi, cứ để thầy ở nhà một mình, thầy tìm cách khất khứa với nó, họa may nó thấy mù lòa, ốm yếu, nó có động lòng thương chăng… 

CHỊ CẢ: – Lão ấy nó còn thương ai. Nếu nó có lòng thương người, nó đã chẳng xử với mình đến thế. 

ÔNG LÃO: – Chả hơn cả ba bố con ngồi trơ ra đây mà tiền không có trả nó, để điên tiết lên nó thẳng tay quăng đồ đạc ra đường hoặc gọi đội xếp thưa bắt hai chúng mày về bóp thì có phải khổ cả không… 

CHỊ CẢ: – Nào, thế cậu định ra sao đây? 

ANH CẢ: – Định à? Chỉ còn một sống một chết, muốn đằng nào thì muốn, chứ sống ngắc ngoải thì không nên sống. Bàn đến kế tránh mặt nó đi thì không xong rồi. Liệu có tránh được mãi không? Dẫu nó không thưa để mình phải vào bóp mà chỉ vứt đồ ra đường, thì tôi cũng không còn bụng dạ nào làm ăn gì nữa… Ruột gan tôi có phải sắt đá đâu? Giời ơi, nghĩ đến vợ đang dắt bố già lang thang đầu đường xó chợ mà vẫn thản nhiên đi làm cho thằng khác ăn, có là con vật không thương yêu ai, dại như chó thì mới thế được. Mà đi làm về thì ăn vào đâu? Không được ăn mà vẫn đi làm à? Đây này: tôi bây giờ chán cả mọi sự rồi, đi làm tôi cũng không thiết nữa. Phải biết thời buổi này mới được. Tôi mà vô gia cư, tất không thoát tù tội. Vợ tôi mà vô gia cư, tất không thoát được lục sì. Ông mà vô gia cư, rồi người ta sẽ nhét ông vào bọn ăn mày ngoại ô. Sống ngắc ngoải thế này mà vẫn còn tưởng sống. 

CHỊ CẢ: – Nông nỗi đã thế này, chẳng nhẽ cứ để mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngửa thì ngửa, đành bó tay chịu chết? 

[…] 

ANH CẢ: – (…) Ăn ở hiền hậu mà cứ vận hạn mãi… Đến thế mà còn tin được Giời, Phật nữa à? (thất vọng). (…) Giời Phật, có để làm gì, hở? Có phải chỉ để làm bù nhìn mặc cho loài người chúng nó ăn thịt nhau, thằng nào xỏ lá, bất nhân, lắm ngón xoay tiền thì được vợ đẹp, con khôn, lên xe xuống ngựa; còn người hiền lành thật thà thì bị lợi dụng, bị đè nén, bị hắt hủi, kiếm chẳng đủ áo mặc cơm ăn có phải không? Có Giời, có Phật mà đến thế à? Không có Giời, Phật nào cả. Hoặc có Giời, có Phật nhưng Giời, Phật không đủ quyền phép thiêng liêng, không công minh, không đáng cho ai kính thờ! Bây giờ ấy à? Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật, chỉ có đồng tiền là đáng kính thờ vì nó sai khiến được mọi người, ai ai cũng phải kính thờ nó mới sống được. Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền! Giời Phật à? Còn kém đồng tiền! 

ÔNG LÃO: (không nói được nữa, chỉ kêu) – Ôi giời ơi! Để tôi chết đi cho rảnh! Cho tôi chết đi! 

CHỊ CẢ: (tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau) – Cậu cứ ở nhà với thầy, tôi đi đằng này một lát. 

ANH CẢ: – Định xách chậu đi đâu thế? 

CHỊ CẢ: – Để lại cho bác phó. Hôm nọ sang chơi, bác ta có ý muốn mua lại, bây giờ tôi đem sang lấy vài hào về mua bát cháo với lọ dầu cho thầy. Thầy bảo cồn ruột chắc chỉ vì đói quá. 

ANH CẢ: – Này, gượm! Người ta bảo đã mà lại. Lúc nãy tôi tạt chơi bên ấy rồi. Hiện bây giờ thằng bé con đang lên sởi, hai vợ chồng chạy thuốc đã méo mặt cả, mua bán gì? Chính tôi cũng còn nợ người ta năm hào mà chưa trả được, lúc nãy vào khất đấy… 

CHỊ CẢ: (thất vọng đờ dẫn cả người, ra ngồi đắp chiếu cho bố). 

ÔNG LÃO: (nằm trong chiếu, vẫn quằn quại kêu rên) – Ôi giời đất ơi, ôi giời đất ơi! 

ANH CẢ: (ứa nước mắt, vùng đứng lên rảo bước ra đến cửa, dừng chân ngẫm nghĩ một lát, quay lại nhìn ông bố, rồi đẩy tung cửa ra đi). 

CHỊ CẢ: (đang gục mặt, ngẩng lên nhìn rồi hốt hoảng, vùng dậy chạy theo) – Giời ơi! Cậu lại định đi đâu… Cậu! Cậu… Giời ơi, thầy ơi thầy, rõ khổ chưa! 

ÔNG LÃO: (tung đống chiếu ra, lật đật ngồi lên gọi) – Ối cả! Ối Thuận!!! (vùng lên chạy ba bước, rồi lả người đi) con mau chạy theo gọi nó lại cho thầy (ngã gục xuống đất). 

CHỊ CẢ: (nửa muốn chạy đi gọi chồng, nửa muốn lại nâng bố lên, luống cuống, sau cùng thì quay lại đỡ bố) – Thầy ơi, thầy ngã có đau không? Rõ khổ! 

ÔNG LÃO: (khặc khừ, lắc đầu, lả đi) 

CHỊ CẢ: (tay run lẩy bẩy, hết sức dìu bố, dẫn lại chỗ chõng tre, để cho ông lão ngồi được yên rồi lả xuống cạnh đấy bất tỉnh nhân sự). 

(Trích vở bi kịch nhân sinh Không một tiếng vang, Vũ Trọng Phụng, in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, Tr.358-364) 

Thực hiện các yêu cầu sau:

♦ Câu 1: Xác định xung đột kịch trong văn bản trên.

Trả lời: Xung đột kịch trong văn bản trên là xung đột giữa khát vọng sống chính đáng, yên ổn với hoàn cảnh túng quẫn về vật chất, tiền bạc.

♦ Câu 2: Những nhân vật nào xuất hiện trong đoạn trích?

Trả lời: Những nhân vật xuất hiện trong đoạn trích là: Ông lão lòa, chị Cả Thuận, anh Cả Thuận.

♦ Câu 3: Theo chị Cả thì lão Thông Xạ là người thế nào?

Trả lời: Theo chị Cả, lão Thông Xạ là người không có lòng thương.

♦ Câu 4: Nhận xét về thái độ của nhân vật anh Cả Thuận thể hiện qua lời thoại: Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền! Giời Phật à? Còn kém đồng tiền!

Trả lời: Thái độ của anh Cả Thuận thể hiện qua lời thoại là thái độ phẫn uất và tuyệt vọng, phản ánh sự xuống cấp về đạo đức của xã hội thành thị Việt Nam trước Cách mạng dưới ách thống trị của thực dân và phong kiến. Anh Cả Thuận chỉ trích xã hội phi nhân tính, nơi mà đồng tiền trở thành thước đo duy nhất cho mọi giá trị, vượt qua cả lương tâm, luật pháp và tôn giáo. Anh cảm thấy mất niềm tin vào công lí và những giá trị đạo đức tốt đẹp.

Câu 5: Xác định 02 lời thoại thể hiện tình cảnh túng quẫn của nhân vật ông lão.

Trả lời: Hai lời thoại thể hiện tình cảnh túng quẫn của nhân vật ông lão là:

+ “Chả hơn cả ba bố con ngồi trơ ra đây mà tiền không có trả nó, để điên tiết lên nó thẳng tay quăng đồ đạc ra đường hoặc gọi đội xếp thưa bắt hai chúng mày về bóp thì có phải khổ cả không…” 

+ “Ôi giời ơi! Để tôi chết đi cho rảnh! Cho tôi chết đi!” 

Câu 6: Qua đoạn trích, tác giả bày tỏ thái độ gì đối với xã hội đương thời?

Trả lời: Thái độ của tác giả đối với xã hội đương thời được thể hiện qua đoạn trích:

+ Lên án cái xã hội chạy theo đồng tiền, bất chấp luân lý, đạo đức, khiến cho những người lương thiện dần mất đi niềm tin về lẽ phải ở đời.

+ Cảm thông với lớp người lương thiện, nghèo khổ trong xã hội.

Hy vọng những hướng dẫn cách làm phần đọc hiểu văn bản kịch thi vào 10 môn Ngữ Văn ở trên đã giúp các em tự tin hơn khi đối diện với thể loại đặc thù này.

Chúc các em ôn tập thật tốt và đạt kết quả cao nhất trong kỳ thi quan trọng sắp tới!

Để ôn thi toàn diện môn Ngữ Văn vào lớp 10, các em có thể tham khảo trọn bộ Tăng tốc 9+ ôn thi vào lớp 10 môn Ngữ Văn, gồm 2 cuốn: Đọc Hiểu và Nghị luận xã hội – Nghị luận văn học. Bộ sách được biên soạn theo hướng dễ học, dễ áp dụng, bám sát các dạng bài thường gặp trong đề thi, giúp học sinh tăng tốc ôn luyện hiệu quả trong giai đoạn nước rút.

Link đọc thử sách: https://drive.google.com/file/d/1QMwNWhc56cBA3OApP5valgFkADa2KMkL/view?usp=sharing

Tkbooks tự hào là nhà xuất bản sách tham khảo lớp 9 hàng đầu tại Việt Nam!

Tkbooks.vn

Share

One thought on “Cách làm phần đọc hiểu văn bản kịch thi vào 10 môn Ngữ Văn

  1. Pingback: Cách làm phần đọc hiểu thi vào 10 môn Ngữ Văn 2026

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *