Cách làm phần đọc hiểu văn bản nghị luận thi vào 10 môn Ngữ Văn

Cách làm phần đọc hiểu văn bản nghị luận thi vào 10 môn Ngữ Văn

Cách làm phần đọc hiểu văn bản nghị luận thi vào 10 môn Ngữ Văn luôn là một trong những nội dung trọng tâm khiến nhiều sĩ tử lo lắng. Để chinh phục trọn vẹn điểm số của phần này, học sinh không chỉ cần nắm vững lý thuyết cốt lõi về luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng mà còn phải phân biệt rõ cách trình bày chủ quan, khách quan cũng như nhận diện được thái độ của tác giả.

Bài viết dưới đây sẽ hệ thống hóa toàn bộ kiến thức và chia sẻ các bước làm bài chi tiết, giúp các em tự tin vượt vũ môn thành công.

Mời các em tham khảo!

>>> Xem thêm:

Cách làm phần đọc hiểu thơ đề thi vào 10 môn Ngữ Văn

Cách làm phần đọc hiểu văn bản thông tin thi vào 10 môn Ngữ Văn

Cách làm đọc hiểu truyện ngắn thi vào 10 môn Ngữ Văn

I. Các dạng câu hỏi đọc hiểu văn bản nghị luận trong đề thi vào 10

Thứ tựĐơn vị kiến thức
1Luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng
2Cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày chủ quan
3Thái độ, tình cảm của tác giả

II. Cách làm các dạng câu hỏi phần đọc hiểu văn bản nghị luận

1. Cách làm câu hỏi về luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng

a. Củng cố kiến thức

Đơn vị kiến thứcKhái niệmCâu hỏi định hướng tìm kiếm
Luận đề– Là vấn đề được luận bàn trong văn bản nghị luận. Vấn đề đó có tính chất bao trùm, xuyên suốt văn bản.

– Mỗi văn bản nghị luận thường chỉ có một luận đề.

– Luận đề có thể được nêu rõ ở nhan đề, ở một số câu hoặc có thể được khái quát từ toàn bộ nội dung của văn bản.

Văn bản này bàn về vấn đề gì?
Luận điểm– Là các ý kiến triển khai những khía cạnh khác nhau của một luận đề trong văn bản nghị luận.

– Qua luận điểm được trình bày, có thể nhận thấy ý kiến cụ thể của người viết về vấn đề được bàn luận.

Tác giả có những ý kiến nào về vấn đề đó?
Lí lẽ– Là những lời diễn giải có lí mà người viết (người nói) đưa ra để khẳng định ý kiến của mình.

– Được dùng để giải thích và triển khai luận điểm, giúp luận điểm trở nên sáng tỏ và vững vàng.

Tại sao tác giả lại nói như vậy? (Giải thích bằng logic).
Bằng chứng– Là những căn cứ cụ thể, sinh động được khai thác từ thực tiễn hoặc từ các tài liệu sách báo.

– Được dùng nhằm xác nhận tính đúng đắn, hợp lí của lí lẽ.

Có gì chứng minh điều đó đúng đắn không? (Số liệu, sự việc, con người cụ thể).
Mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng– Luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng là những yếu tố có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong văn bản nghị luận. Mối liên hệ này có tính tầng bậc.

– Văn bản nghị luận trước hết phải có một luận đề. Từ luận đề, người viết triển khai thành các luận điểm.

– Mỗi luận điểm muốn có sức thuyết phục, cần được làm rõ bằng các lí lẽ.

– Mỗi lí lẽ cần được chứng minh bằng các bằng chứng cụ thể.

b. Dạng đề và cách làm

Dạng1.1 – Xác định luận đề/ luận điểm/ lí lẽ/ bằng chứng/ nội dung trong văn bản1.2 – Phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố
Nhận diện câu hỏi– Xác định luận đề của văn bản./ Văn bản trên bàn về vấn đề gì?

– Xác định luận điểm trong văn bản./ Văn bản trên có những luận điểm nào?

– Xác định lí lẽ/ bằng chứng…

– Theo tác giả/ trong văn bản…

Phân tích/ chỉ ra mối liên hệ/ sự kết hợp giữa yếu tố A và yếu tố B.

(Yếu tố A, yếu tố B có thể là luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng)

Cách làmBước 1: Xác định yêu cầu của đề

Đọc kĩ đề, xác định nội dung cần tìm (cần tìm gì?) và chỗ để tìm (tìm trong phạm vi nào hay trong cả văn bản?).

Bước 2: Tìm yếu tố theo yêu cầu

Tìm luận đề: đọc nhan đề (nếu có), đọc toàn bộ văn bản – chú ý vào các từ khoá xuất hiện nhiều lần

Tìm luận điểm: đọc từng đoạn văn nhỏ, chú ý phần đầu và kết đoạn, chú ý các từ khoá xuất hiện nhiều lần

Tìm lí lẽ: chú ý những câu có cụm từ Tôi cho rằng/ theo tôi/ không thể phủ nhận rằng/ quả thực/ chắc hẳn/ chắc chắn…

Tìm bằng chứng: số liệu, con người cụ thể (tên riêng), tên địa danh, Thực tế cho thấy/ trong thực tế/ sự thật là/ minh chứng là…

– Tìm 1 nội dung bất kì: tìm đúng chỗ

Bước 3: Kiểm chứng lại

Luận đề: đọc xem tất cả các đoạn văn trong văn bản có cùng thể hiện cho luận đề hay không.

Luận điểm: đọc xem tất cả các câu văn trong đoạn có cùng làm rõ cho luận điểm hay không? Đọc cả những đoạn văn ngay trước, ngay sau.

Lí lẽ: điều này có thể khác nhau tuỳ vào suy nghĩ của mỗi người không? Nó có thể thay đổi theo thời gian không?

Bằng chứng: thông tin tìm được có thể thay đổi theo thời gian hay không? có tính xác thực không?

– 1 nội dung bất kì: xác nhận xem em tìm hết chưa? Nội dung đã tìm có thoả mãn hết các yêu cầu của đề không?

Bước 4: Viết câu trả lời

Bước 1: Xác định yếu tố A, yếu tố B

– Đọc kĩ đề, xác định những yếu tố cần phân tích mối liên hệ.

– Chỉ ra từng yếu tố (cách làm như bước 2+3 của dạng 1.1)

Bước 2: Phân tích mối liên hệ

– Luận điểm gắn bó mật thiết với luận đề; được sắp xếp có hệ thống, hợp lí để giúp cho luận đề của văn bản được sáng rõ, thuyết phục.

⇒ Luận đề chi phối, định hình cho luận điểm.

– Lí lẽ là những lẽ phải được lấy làm căn cứ để giải thích, làm rõ cho luận điểm. Để có sức thuyết phục, lí lẽ cần chặt chẽ, xác đáng

⇒ luận điểm chi phối, định hình cho lí lẽ.

– Bằng chứng là những ví dụ cụ thể nhằm chứng minh, củng cố cho lí lẽ. Để có sức thuyết phục, bằng chứng cần phù hợp, tiêu biểu.

⇒ lí lẽ là cơ sở logic để tìm kiếm bằng chứng.

Bước 3: Viết câu trả lời

– Phân tích đủ 2 ý cho thấy mối liên hệ 2 chiều, chặt chẽ giữa các yếu tố.

– Bám sát nội dung của văn bản, không chỉ chép nguyên văn lí thuyết.

Gợi ý câu trả lờiTuỳ vào yêu cầu của đề để trả lời.

Chú ý: Khi nêu luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng không bắt buộc phải trích nguyên văn từ văn bản, em có thể diễn đạt lại ý chính bằng lời văn của mình.

– Yếu tố A là […], yếu tố B là […] (nếu đề chưa nêu rõ)

– Mối liên hệ giữa A và B là: (nêu rõ, không phải chỉ chép lí thuyết chung)

+ A đối với B

+ B đối với A

 

Dạng1.3 – Nêu vai trò của luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong việc thể hiện luận đề1.4 – Nêu cách hiểu về từ ngữ/ câu văn/ ý kiến/ quan điểm
Nhận diện câu hỏi– Hệ thống luận điểm trong văn bản có vai trò gì trong việc thể hiện luận đề của văn bản?

– Các lí lẽ, bằng chứng có vai trò gì trong việc thể hiện luận đề của văn bản?

– Vai trò của luận điểm, lí lẽ, bằng chứng trong việc thể hiện luận đề của văn bản là gì?

– Em hiểu như thế nào về từ ngữ/ câu văn/ ý kiến/ quan điểm […]?

– Vì sao tác giả viết […]?

Cách làmBước 1: Xác định yêu cầu của đề

Đọc kĩ đề, xác định xem đề yêu cầu nêu vai trò của mấy yếu tố, đó là yếu tố nào?

Bước 2: Tìm yếu tố theo yêu cầu

Lần lượt chỉ ra từng yếu tố mà đề bài hỏi (làm giống dạng 1.1)

Bước 3: Tìm ý nêu vai trò

Luận điểm: sắp xếp có hệ thống, hợp lí để giúp cho luận đề của văn bản được sáng rõ, thuyết phục

Lí lẽ: là căn cứ để giải thích, làm rõ cho luận điểm; từ đó làm rõ và tăng tính thuyết phục, logic cho luận đề

Bằng chứng: là ví dụ cụ thể để chứng minh, củng cố cho lí lẽ; góp phần làm tăng tính thuyết phục cho luận điểm và luận đề

Bước 4: Viết câu trả lời

Gắn với nội dung trong văn bản, không được chép nguyên văn lí thuyết.

Bước 1: Xác định yêu cầu của đề

– Đọc kĩ đề, xác định nội dung cần lí giải.

– Đọc kĩ văn bản, xác định vị trí của nội dung cần lí giải trong văn bản.

Bước 2: Giải nghĩa

Từ ngữ: đi từ nghĩa phổ biến thường gặp (nghĩa đen) đến nghĩa trong ngữ cảnh của văn bản.

Câu văn/ quan điểm/ ý kiến: tách thành các vế nhỏ, giải nghĩa từng vế nhỏ, gộp lại để giải nghĩa cả câu.

Bước 3: Viết câu trả lời

Tách ý, mỗi ý tương ứng với 1 ý nghĩa mà em đã tìm được ở bước 2.

Gợi ý câu trả lờiVai trò của […] là: […]Em hiểu từ ngữ/ câu văn/ quan điểm này là:+ [nêu ý nghĩa 1]+ [nêu ý nghĩa 2]…

c. Ví dụ

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

NIỀM TIN

(1) Một trong những bộ phim tôi thích nhất từ trước đến nay là “Phép lạ trên đường ba mươi tư” được sản xuất năm 1947, trong đó có một câu nói rất thú vị khi hai diễn viên chính John Payne và Maureen O’Hara đối thoại với nhau, đó là: “Niềm tin là sự tin tưởng vào những điều mà lẽ thường bảo bạn đừng nên tin”. Có những băn khoăn trong đời tôi mà chỉ có cách phó thác cho niềm tin, chẳng hạn như tôi có thật sự làm đúng bổn phận của mình trong cuộc sống và công việc không, liệu tôi có thể có được một sự nghiệp vừa đảm bảo về tài chính, vừa là công việc tôi yêu thích không, hay tôi có luôn sống khỏe mạnh không… Không ít lần, tôi căng thẳng, sợ hãi và lo âu, nhưng tôi vẫn cố tin rằng cuối cùng mọi việc sẽ ổn thỏa, dù chẳng có căn cứ gì chắc chắn.

(2) Tôi thích xem những chương trình truyền hình thuật lại tiểu sử của những người nổi tiếng mà lúc khởi nghiệp không ai tin rằng họ sẽ thành công, thế nhưng họ đã thực hiện được. Người ta bảo Sophia Loren có thân hình quá to và còn vô số những người phụ nữ khác (kể cả nổi tiếng hay không) được các nhà chuyên môn trong lĩnh vực nghề nghiệp của họ đánh giá rằng họ không đủ đẹp, không đủ cao, không đủ thông minh hay không đủ tài năng; thậm chí tệ hại hơn, chính cha mẹ của họ là những người có ảnh hưởng lớn đến cuộc đời họ cũng nhận xét như vậy. Đối với những phụ nữ đầy bản lĩnh này, chính niềm tin vào bản thân và vào một đấng quyền năng đã giúp họ vững vàng thực hiện hoài bão của mình.

(3) Tôi tin rằng mỗi người chúng ta sẽ luôn có cho mình một đấng quyền năng để chúng ta đặt niềm tin vào ngài. Dù bạn theo tín ngưỡng hay tôn giáo nào, hoặc giả bạn không theo một tôn giáo nào cả, thì bạn vẫn có thể có một niềm tin cho riêng mình. Niềm tin là sự tin tưởng chúng ta đặt trọn vào một đối tượng khác. Thậm chí nếu bạn chẳng tin vào điều gì ngoài thực tại bằng xương thịt của bạn, thì bạn vẫn còn một người để đặt trọn niềm tin, đó là bản thân bạn, vì bạn không thể phủ nhận cả sự hiện hữu của chính mình.

(In trong Hạnh phúc ở trong ta, Debbie Gisonni, NXB Trẻ, 2016)

Câu hỏi (0.5 điểm) – Dạng 1.1: Xác định luận đề của văn bản.

Trả lời:

Luận đề của văn bản là: niềm tin.

Câu hỏi (0.5 điểm) – Dạng 1.1 + Dạng 1.3: Tác giả đưa ra những bằng chứng nào trong đoạn văn số (2)? Nêu tác dụng của việc sử dụng những bằng chứng đó.

Trả lời:

+ Những bằng chứng được sử dụng trong đoạn văn số (2) là:

Niềm tin của Sophia Loren (một người phụ nữ nổi tiếng thành công) từng bị người ta đánh giá là có thân hình quá to.

Niềm tin của vô số những người phụ nữ khác (kể cả nổi tiếng hay không) được các nhà chuyên môn trong lĩnh vực nghề nghiệp của họ hay thậm chí chính cha mẹ của họ đánh giá rằng họ không đủ đẹp, không đủ cao, không đủ thông minh hay không đủ tài năng.

+ Tác dụng:

Những bằng chứng này là ví dụ cụ thể để chứng minh, củng cố cho lí lẽ: niềm tin có thể giúp con người vững vàng thực hiện được hoài bão của mình.

Những bằng chứng còn góp phần làm tăng tính thuyết phục cho luận điểm về sức mạnh của niềm tin và luận đề bàn về niềm tin trong cuộc sống.

2. Cách làm câu hỏi về cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày chủ quan

a. Củng cố kiến thức

Đơn vị kiến thứcĐặc điểmTác dụng
Cách trình bày vấn đề khách quan (Thông tin khách quan)– Chỉ đưa thông tin, nêu ra các bằng chứng khách quan.

– Thường được thể hiện ở dạng bản tin, số liệu thống kê, phát hiện của các nhà nghiên cứu, kết quả thí nghiệm,…

Tạo cơ sở vững chắc (từ pháp lí, từ thực tiễn,…) đảm bảo tính chính xác, đúng đắn cho các lập luận.
Cách trình bày vấn đề chủ quan (Ý kiến chủ quan)– Đưa ra ý kiến đánh giá chủ quan, thể hiện rõ tình cảm, quan điểm của người viết.

– Thường được đánh dấu bằng những cách diễn đạt như: tôi nghĩ, tôi tin, tôi cảm thấy, theo quan điểm của tôi, chúng tôi cần,…; hoặc các từ ngữ thể hiện cảm xúc, tình cảm, nhận xét như: thích, ghét, thú vị, rất đáng ghi nhận, thật sự có giá trị,…

Tác động đến cảm xúc của người đọc, khơi gợi sự đồng cảm, mối quan tâm của bạn đọc về những vấn đề được bàn luận.

b. Dạng đề và cách làm

Dạng2.1 – Xác định cách trình bày chủ quan/ khách quan2.2 – Nêu tác dụng/ nhận xét cách trình bày vấn đề

Nhận diện câu hỏi

Tìm/ chỉ ra/ xác định thông tin khách quan và/ hoặc ý kiến chủ quan trong đoạn văn bản…– Nêu tác dụng của cách trình bày vấn đề trong đoạn văn bản…

– Em có nhận xét gì về sự kết hợp giữa thông tin khách quan và ý kiến chủ quan trong đoạn văn bản…?

Cách làm

Bước 1: Xác định cách trình bày vấn đề

– Đọc đoạn văn bản mà đề bài hỏi.

– Xác định trong đoạn văn đó:

+ Từ ngữ, câu văn nào thể hiện ý kiến đánh giá chủ quan của người viết, ý kiến đó có thể khác biệt ở mỗi người ⇒ đó là cách trình bày chủ quan.

+ Từ ngữ, câu văn nào chỉ thuần đưa ra thông tin, số liệu thực tế, là sự thật đã diễn ra và không thể thay đổi được ⇒ đó là cách trình bày khách quan.

Bước 2: Viết câu trả lời

Trích đúng những từ ngữ, câu văn của văn bản thể hiện cho cách trình bày vấn đề mà đề bài hỏi.

Bước 1: Xác định yêu cầu của đề

Bước 2: Tìm ý nêu tác dụng

– Xác định rõ từng cách trình bày vấn đề được thể hiện qua những từ ngữ, câu văn nào?

– Nêu tác dụng/ nhận xét: dựa vào lí thuyết + thay thế những nội dung cụ thể trong văn bản

Bước 3: Viết câu trả lời

Gợi ý câu trả lời

– Cách trình bày vấn đề khách quan (thông tin khách quan) trong đoạn văn là: “[trích dẫn…]”

– Cách trình bày vấn đề chủ quan (ý kiến chủ quan) trong đoạn văn là: “[trích dẫn…]”

Tác dụng của cách trình bày vấn đề khách quan/ chủ quan/ sự kết hợp hai cách trình bày là:

– Cách trình bày vấn đề khách quan giúp tạo cơ sở vững chắc (từ pháp lí, từ thực tiễn,…) đảm bảo tính chính xác, đúng đắn cho lập luận về […].

– Cách trình bày vấn đề chủ quan giúp tác động đến cảm xúc của người đọc, khơi gợi sự đồng cảm, mối quan tâm của bạn đọc về vấn đề […].

(nếu đề hỏi) Hai cách trình bày kết hợp với nhau giúp lập luận thêm chặt chẽ, hợp tình hợp lí.

c. Ví dụ

Câu hỏi (1.0 điểm): Xác định cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày chủ quan trong phần in đậm của văn bản dưới đây, từ đó cho biết tác dụng của việc kết hợp hai cách trình bày này.

Lâm Thị Mỹ Dạ làm bài thơ “Khoảng trời hố bom” tại Trường Sơn vào tháng 10 năm 1972, một trong những thời điểm ác liệt nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ. Trên dãy Trường Sơn, ngày nào cũng có sự hy sinh của bộ đội, thanh niên xung phong. Sự hy sinh của họ trở thành những biểu tượng tuyệt đẹp trong văn học. 

Bài thơ như câu chuyện kể về sự hy sinh dũng cảm của một cô gái mở đường: “Chuyện kể rằng em cô gái mở đường/ Để cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương/ Cho đoàn xe kịp giờ ra trận/ Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa/ Đánh lạc hướng thù hứng lấy luồng bom”. Chất tự sự khá đậm rõ: khi đơn vị hành quân qua con đường mòn, những chiến sĩ ra trận chỉ còn thấy hố bom và huyền tích về người con gái hy sinh. Giọng thơ không còn cứng cỏi, vang vang như trước nữa mà nó lắng xuống, trầm vọng như tiếng thở dài đầy thương cảm: “Em nằm dưới đất sâu”. Không thương cảm sao được khi biết rằng cô gái “nằm dưới đất sâu” giữa những hố bom nham nhở đang còn trẻ lắm; đây là một trinh sát nữ anh hùng, một biểu tượng bất tử của tinh thần yêu nước Việt Nam: “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”… 

[…]

Đọc lại “Khoảng trời hố bom” sau hơn 40 năm tác phẩm ra đời, tôi càng thấm thía điều này: Thơ hay phải chứa trong nó những xúc cảm đầy đặn, những tư tưởng thời đại, gắn bó với Tổ quốc, với nhân dân và được biểu hiện bằng những hình ảnh độc đáo mang dấu ấn sáng tạo của tác giả. Cách tân đến đâu, mới lạ về hình thức đến mấy mà rời xa, thoát ly dân tộc thì chắc chắn sớm hay muộn nó sẽ bị lãng quên như một số trường hợp người làm thơ trong mấy chục năm qua.

Chú thích: Bài thơ “KHOẢNG TRỜI, HỐ BOM” của Lâm Thị Mỹ Dạ:

Chuyện kể rằng: em, cô gái mở đường 

Để cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương 

Cho đoàn xe kịp giờ ra trận 

Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa 

Đánh lạc hướng thù – Hứng lấy những luồng bom… 

Đơn vị tôi hành quân qua con đường mòn 

Gặp hố bom nhắc chuyện người con gái 

Một nấm mộ, nắng ngời bao sắc đá 

Tình yêu thương bồi đắp cao lên… 

Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em 

Mưa đọng lại một khoảng trời nho nhỏ 

Đất nước mình nhân hậu 

Có nước trời xoa dịu vết thương đau. 

Em nằm dưới đất sâu 

Như khoảng trời đã nằm yên trong đất 

Đêm đêm, tâm hồn em toả sáng 

Những vì sao ngời chói, lung linh. 

Có phải thịt da em mềm mại, trắng trong 

Đã hoá thành những làn mây trắng? 

Và ban ngày khoảng trời ngập nắng 

Đi qua khoảng trời em – Vầng dương thao thức 

Hỡi mặt trời, hay chính trái tim em trong ngực 

Soi cho tôi 

Ngày hôm nay bước tiếp quãng đường dài? 

Tên con đường là tên em gửi lại 

Cái chết em xanh khoảng-trời-con-gái 

Tôi soi lòng mình trong cuộc sống của em 

Gương mặt em, bạn bè tôi không biết 

Nên mỗi người có gương mặt em riêng! 

Trường Sơn, 10-1972

Trả lời:

– Cách trình bày vấn đề khách quan trong phần in đậm là: “Chuyện kể rằng em cô gái mở đường/ Để cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương/ Cho đoàn xe kịp giờ ra trận/ Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa/ Đánh lạc hướng thù hứng lấy luồng bom”; “khi đơn vị hành quân qua con đường mòn, những chiến sĩ ra trận chỉ còn thấy hố bom và huyền tích về người con gái hy sinh”. 

– Cách trình bày vấn đề chủ quan trong phần in đậm là: “Bài thơ như câu chuyện kể về sự hy sinh dũng cảm của một cô gái mở đường”; “Chất tự sự khá đậm rõ”; “Giọng thơ không còn cứng cỏi, vang vang như trước nữa mà nó lắng xuống, trầm vọng như tiếng thở dài đầy thương cảm”; “Không thương cảm sao được khi biết rằng cô gái “nằm dưới đất sâu” giữa những hố bom nham nhở đang còn trẻ lắm; đây là một trinh sát nữ anh hùng, một biểu tượng bất tử của tinh thần yêu nước Việt Nam”.

+ Tác dụng của việc kết hợp hai cách trình bày này là:

– Cách trình bày vấn đề khách quan giúp tạo cơ sở vững chắc từ chính bài thơ “Khoảng trời hố bom” (Lâm Thị Mỹ Dạ) để đảm bảo tính chính xác, đúng đắn cho lập luận về nội dung và chất tự sự trong bài thơ.

– Cách trình bày vấn đề chủ quan giúp tác động đến cảm xúc của người đọc, khơi gợi sự đồng cảm, mối quan tâm của bạn đọc về nội dung và chất tự sự trong bài thơ “Khoảng trời hố bom”.

– Sự kết hợp hai cách trình bày này trong đoạn văn bản đã giúp tăng tính thuyết phục, chặt chẽ cho lập luận, mỗi một ý kiến chủ quan lại đi liền với một thông tin khách quan.

3. Cách trả lời câu hỏi về thái độ, tình cảm của tác giả trong văn bản nghị luận

a. Dạng đề và cách làm

Dạng3 – Xác định thái độ, tình cảm của tác giả được thể hiện trong văn bản
Nhận diện câu hỏi– Xác định thái độ của tác giả được thể hiện qua văn bản.

– Văn bản cho thấy tác giả có thái độ gì về vấn đề bàn luận?

Cách làmBước 1: Xác định yêu cầu của đề

Bước 2: Xác định thái độ của tác giả

– Đọc kĩ văn bản, xác định rõ vấn đề đang được bàn luận $\rightarrow$ thái độ của tác giả đối với vấn đề.

– Dùng đúng những từ ngữ chỉ thái độ, tình cảm để trả lời: đồng tình/ ủng hộ/ phản đối/ lên án/ trân trọng/ ca ngợi/ khuyến khích/ đề cao/ coi trọng…

Bước 3: Viết câu trả lời

Gợi ý câu trả lờiThái độ của tác giả được thể hiện qua văn bản là: […].

c. Ví dụ

Câu hỏi (1.0 điểm): Xác định thái độ của tác giả Cô-phi An-nan được thể hiện trong văn bản sau:

THÔNG ĐIỆP NHÂN NGÀY THẾ GIỚI PHÒNG CHỐNG AIDS, 01-12-2003

Cô-phi An-nan (Kofi Annan)

Cách đây hai năm, các quốc gia trên thế giới đã nhất trí rằng để đánh bại căn bệnh HIV/AIDS, cần phải có sự cam kết, nguồn lực và hành động. Tại phiên họp đặc biệt vào năm 2001 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về HIV/AIDS, các quốc gia đã nhất trí thông qua Tuyên bố về Cam kết phòng chống HIV/AIDS, trong đó đưa ra một loạt mục tiêu cụ thể kèm theo thời hạn để chiến đấu chống lại dịch bệnh này. 

Ngày hôm nay, chúng ta đã cam kết và các nguồn lực đã được tăng lên. Song những hành động của chúng ta vẫn quá ít so với yêu cầu thực tế. 

Đến thời điểm này, ngân sách dành cho phòng chống HIV đã được tăng lên một cách đáng kể, nhờ vào sự cam kết đóng góp tại từng quốc gia. Đồng thời, vấn đề thành lập Quỹ toàn cầu về phòng chống AIDS, lao và sốt rét cũng đã được thông qua. Đại đa số các nước đã xây dựng chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS của mình. Ngày càng có nhiều công ty áp dụng chính sách phòng chống HIV/AIDS tại nơi làm việc. Nhiều nhóm từ thiện và cộng đồng đã luôn đi đầu trong cuộc chiến chống AIDS, hiện đang hoạt động tích cực trong việc phối hợp chặt chẽ với chính phủ và các tổ chức khác để cùng nhau ứng phó với bệnh dịch này. 

Nhưng cũng chính lúc này, dịch HIV/AIDS vẫn hoành hành, gây tỉ lệ tử vong cao trên thế giới và có rất ít dấu hiệu suy giảm. Trong năm qua, mỗi phút đồng hồ của một ngày trôi đi, có khoảng 10 người bị nhiễm HIV. Ở những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất, tuổi thọ của người dân bị giảm sút nghiêm trọng. HIV/AIDS đang lây lan với tốc độ báo động ở phụ nữ. Giờ đây phụ nữ đã chiếm tới một nửa trong tổng số người nhiễm trên toàn thế giới. Bệnh dịch này đang lan rộng nhanh nhất ở chính những khu vực mà trước đây hầu như vẫn còn an toàn – đặc biệt là Đông Âu và toàn bộ châu Á, từ dãy núi U-ran (Ural) đến Thái Bình Dương. 

Chúng ta đã không hoàn thành được một số mục tiêu đề ra cho năm nay theo Tuyên bố về Cam kết phòng chống HIV/AIDS. Nhưng điều quan trọng hơn là chúng ta đã bị chậm trong việc giảm quy mô và tác động của dịch so với chỉ tiêu đã đề ra cho năm 2005. Lẽ ra chúng ta phải giảm được 1/4 số thanh niên bị nhiễm HIV ở các nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất; lẽ ra chúng ta phải giảm được một nửa trẻ sơ sinh bị nhiễm; và lẽ ra chúng ta phải triển khai các chương trình chăm sóc toàn diện ở khắp mọi nơi. Với tiến độ như hiện nay, chúng ta không đạt được bất kì mục tiêu nào vào năm 2005. 

Rõ ràng, chúng ta phải nỗ lực nhiều hơn nữa để thực hiện cam kết của mình bằng những nguồn lực và hành động cần thiết. Chúng ta không thể tuyên bố rằng những thách thức cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng hơn và cấp bách hơn. Chúng ta phải đưa vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động thực tế của mình. 

Đó là lí do chúng ta phải công khai lên tiếng về AIDS. Dè dặt, từ chối đối mặt với sự thật không mấy dễ chịu này, hoặc vội vàng phán xét đồng loại của mình, chúng ta sẽ không đạt được đến độ hoàn thành các mục tiêu đề ra, thậm chí chúng ta còn bị chậm hơn nữa, nếu sự kì thị và phân biệt đối xử vẫn diễn ra đối với những người nhiễm HIV/AIDS. Hãy đừng để một ai đó có ảo tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ được chính mình bằng cách dựng lên các bức rào chắn ngăn cách giữa “chúng ta” và “họ”. Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm “chúng ta” và “họ”. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết.  

Nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS năm nay, tôi kêu gọi các bạn hãy cùng tôi lên tiếng thật to và dõng dạc về HIV/AIDS. Hãy cùng tôi đánh đổ các thành luỹ của sự im lặng, kì thị và phân biệt đối xử đang vây quanh bệnh dịch này. 

Hãy sát cánh cùng tôi, bởi lẽ cuộc chiến chống lại HIV/AIDS bắt đầu từ chính các bạn. 

(In trong Ngữ văn 12, tập một, Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên), NXB Giáo dục, 2009)

Trả lời:

Thái độ của tác giả Cô-phi An-nan được thể hiện trong văn bản trên là:

– Quan ngại sâu sắc trước thực trạng không mấy khả quan và chưa hiệu quả của công cuộc phòng chống HIV/AIDS trên toàn thế giới.

– Thẳng thắn, lo lắng và có phần thất vọng về kết quả phòng chống dịch HIV/AIDS.

– Tin tưởng và kêu gọi chân thành, mạnh mẽ đối với những hành động quyết liệt trong cuộc chiến chống lại HIV/AIDS.

Hy vọng những hướng dẫn cách làm phần đọc hiểu văn bản nghị luận thi vào 10 môn Ngữ Văn ở trên đã giúp các em nắm vững phương pháp giải quyết từng dạng đề cụ thể từ nhận diện hệ thống luận điểm đến phân tích tư duy khách quan, chủ quan và thái độ tác giả.Việc thấu hiểu bản chất bản văn kết hợp với việc luyện tập đều đặn sẽ giúp các em tự tin tối ưu hóa điểm số của mình. Hãy bình tĩnh, áp dụng linh hoạt các bước làm bài và chúc các em có một kỳ thi thật thành công rực rỡ!

Để ôn thi toàn diện môn Ngữ Văn vào lớp 10, các em có thể tham khảo trọn bộ Tăng tốc 9+ ôn thi vào lớp 10 môn Ngữ Văn, gồm 2 cuốn: Đọc Hiểu và Nghị luận xã hội – Nghị luận văn học. Bộ sách được biên soạn theo hướng dễ học, dễ áp dụng, bám sát các dạng bài thường gặp trong đề thi, giúp học sinh tăng tốc ôn luyện hiệu quả trong giai đoạn nước rút.

Link đọc thử sách: https://drive.google.com/file/d/1QMwNWhc56cBA3OApP5valgFkADa2KMkL/view?usp=sharing

Tkbooks tự hào là nhà xuất bản sách tham khảo lớp 9 hàng đầu tại Việt Nam!

Tkbooks.vn

Share

One thought on “Cách làm phần đọc hiểu văn bản nghị luận thi vào 10 môn Ngữ Văn

  1. Pingback: Cách làm phần đọc hiểu thi vào 10 môn Ngữ Văn 2026

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *