Dưới đây là bài soạn văn Soạn văn Sơn Tinh – Thủy Tinh lớp 9 ngắn nhất nhưng vẫn đầy đủ ý. Bài soạn sẽ giúp các em học sinh hiểu rõ hơn về ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm này cũng như cảm nhận được những nét độc đáo trong phong cách sáng tác của Nguyễn Nhược Pháp.
Mời các em tham khảo!
I. Sơn Tinh – Thủy Tinh lớp 9 tác giả tác phẩm
1. Tác giả Nguyễn Nhược Pháp
Nguyễn Nhược Pháp (1914 – 1938) là một trong những thi sĩ đặc biệt của phong trào Thơ mới. Ông chỉ tại thế 24 năm, chưa lập gia đình. “Thơ in ra rất ít mà người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp”.

Ông sáng tác nhiều thể loại như truyện ngắn, kịch nhưng người đọc biết đến ông nhiều nhất với tư cách một nhà thơ.
Nhà phê bình Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” nhận xét về Nguyễn Nhược Pháp như sau: “Đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào hình cũng thoáng thấy bóng một người đường khúc khích cười. Nhưng cái cười của Nguyễn Nhược Pháp khác xa những lối bóng lọn khó chịu của các ông Tú, Tú Xương, đến Tú Mỡ. Nó hiền lành và thanh tao”.
2. Tác phẩm Sơn Tinh – Thủy Tinh
Bài thơ “Sơn Tinh – Thủy Tinh” được đánh giá là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Nguyễn Nhược Pháp. Bài thơ khá dài (gồm 124 câu thơ) nhưng văn bản trong sách giáo khoa chỉ trích đọc phần I và phần III của bài thơ thôi.
♦ Thể thơ: 7 chữ
♦ Bài thơ dựa trên nội dung của truyện thuyết “Sơn Tinh – Thủy Tinh”.
♦ Bố cục gồm 2 phần:
- Phần 1 (Từ đầu đến “vui lòng gả nàng Mị Nương”): Chuyện vua Hùng Vương thứ 18 kén rể.
- Phần 2 (Đoạn còn lại): Cảnh giao tranh của hai vị thần

II. Soạn văn Sơn Tinh – Thủy Tinh ngắn nhất
Dưới đây là phần Soạn văn Sơn Tinh – Thủy Tinh ngắn gọn, đầy đủ, giúp các em dễ dàng nắm được diễn biến câu chuyện, đặc điểm nhân vật và những giá trị nổi bật của tác phẩm.
1. Chuyện vua Hùng thứ 18 kén rể
Đoạn thơ đầu vẫn phỏng theo truyền thuyết xưa: Vua Hùng thứ 18 có một cô con gái xinh đẹp là Mị Nương. Vua rất yêu con gái và muốn kén cho nàng một người chồng thật xứng đáng.
Không gian của cuộc kén rể đậm chất liêu trai:
“Ngày xưa khi rừng mây u ám
Sóng núi còn vang um tiếng thần”
Khung cảnh ấy tạo nên sự giao thoa giữa thế giới người và thế giới thần linh. Ở đó, tiếng của thần luôn vang vọng và ai cũng có thể nghe được.
Hình ảnh Mị Nương trong trí tưởng tượng của Nguyễn Nhược Pháp thật xinh đẹp với:
“Tóc xanh viền má hây hây đỏ;
Miệng nàng hé thắm như san hô;
Tay ngà nõn nà, hai chân nhỏ;
Mê nàng, bao nhiêu người làm thơ.”
Trí tưởng tượng của Nguyễn Nhược Pháp khiến hình tượng Mị Nương trở nên cụ thể và sinh động hơn so với truyền thuyết dân gian.
Hình ảnh Sơn Tinh và Thủy Tinh được nhà thơ tưởng tượng khá độc đáo:
Sơn Tinh có một mắt ở trán;
Thủy Tinh râu ria quăn xanh rì.
Một thần phi bạch hổ trên cạn,
Một thần cưỡi lưng rồng uy nghi.
Hình tượng Sơn Tinh được Nguyễn Nhược Pháp miêu tả bằng trí tưởng tượng phong phú: chàng có một mắt ở trán; thú cưỡi của Sơn Tinh là con hổ trắng. Hình ảnh Sơn Tinh hiện lên vừa uy nghi, phi thường, vừa gần gũi, dễ thương.
Hình tượng Thủy Tinh được miêu tả với nhiều nét hoang dã, hung tợn với “râu ria quăn xanh rì”; chàng cưỡi trên lưng rồng uy nghi, oai vệ khiến ai cũng khiếp sợ.
Màn khoe tài của hai vị thần cũng được kể cụ thể, sống động:
Sức mạnh của Thủy Tinh là sức mạnh hủy diệt khiến Mị Nương và Vua Hùng sợ hãi.
“Cây xiêu, cầu gãy, nước hò reo,
Lăn, cuộn, gầm, lay, tung sóng bạc,
Bò lợn và cột nhà trôi theo.”
Trong khi đó, Sơn Tinh lại có tài năng có thể chế ngự được sự tàn phá do Thủy Tinh gây ra.
“Sơn Tinh cười, xin nàng đừng lo;
Vung tay niệm chú: Núi từng dải,
Nhà lớn, đồi con lổm ngổm bò”
Với màn thể hiện sức mạnh như vậy, cả Mị Nương và vua Hùng đều đã có lựa chọn của mình. Tuy nhiên, để tạo sự công bằng cho cuộc kén rể, sau khi “nghĩ lâu hơn bàn việc nước”, vua đã quyết định đưa ra yêu cầu cầu sinh lễ và bảo ai mang sính lễ đến trước sẽ được “vui lòng vua gả Mị Nương cho”.
⇒ Bằng trí tưởng tượng của mình, Nguyễn Nhược Pháp đã tạo ra một cuộc kén rể đầy hấp dẫn với màn thi tài ấn tượng của Sơn Tinh và Thủy Tinh. Mặc dù dựa trên truyền thuyết dân gian, nhưng cuộc thi tài kén rể Nguyễn Nhược Pháp vẫn tạo cho mình một sức hấp dẫn riêng.
>>> Tải bài soạn văn dưới dạng file PDF miễn phí tại đây!
2. Cuộc giao tranh của hai vị thần
Đám cưới độc đáo giữa thần và người được Nguyễn Nhược Pháp miêu tả đầy ấn tượng. Sơn Tinh đi theo sau chiếc kiệu nhỏ xinh mà lòng say mê, lâng lâng hạnh phúc:
“Sơn Tinh đang kèm theo sau kiệu,
Áo bào phất phơ nụ cười bay
(Vui chỉ me ai xinh mới hiểu.)
Thần trong kiệu nhỏ hồn thêm say.”
Thủy Tinh vì không cưới được Mị Nương nên đã dâng nước đòi lại người đẹp và cũng là để phô diễn sức mạnh của mình. Các loài cá voi, cá mập, tôm, cua cùng tham gia cuộc chiến.
Sơn Tinh niệm chú đẩy đất lên cao, vui hùm, báo,… cũng giúp sức thần đánh lại Thủy Tinh.
Cuộc “đánh ghen” của hai vị thần cũng vô cùng khác thường: mây đen, sấm ran, sét động nổ lòe xanh… cả vũ trụ vang động cùng tiếng kêu của muông thú, khiến khung cảnh vô cùng hỗn loạn.
“Cuộc chiến ác liệt, “máu vọt phì reo muôn ngấn hồng” khiến Mị Nương kinh hãi, mắt nhòa lệ. Tiếng kêu của Mị Nương trong con mắt của tác giả thật “dễ thương”. Tuy nhiên, nó cũng không đủ sức để khiến cho cuộc chiến đầy kết thúc.
Hàng năm, Thủy Tinh vẫn dâng nước “đục nước hồ reo đòi Mị Nương”. Đó là sự “khác thường” của thần khi yêu.
⇒ Bằng trí tưởng tượng phong phú ngôn ngữ sinh động của mình, Nguyễn Nhược Pháp đã tái hiện cuộc chiến ác liệt của các vị thần. Việc chuyển một truyền thuyết phổ biến thành một bài thơ hấp dẫn thể hiện tài năng của tác giả.
3. Giá trị hiện thực của văn bản
Bài thơ “Sơn Tinh, Thủy Tinh” đã tái hiện cuộc đấu của hai thế lực thiên nhiên. Đó cũng là cuộc chiến của con người Việt Nam chống lại thiên tai, bão lũ từ ngàn đời nay.
Bài thơ còn cho thấy sức mạnh của tình yêu. Dù là thần hay là người đều sẵn sàng làm tất cả vì tình yêu của mình. Sơn Tinh vì yêu mà quyết tâm “đối” chiến đấu để bảo vệ Mị Nương; Thủy Tinh cũng vì yêu mà quyết liệt “đòi” Bài thơ cũng cho ta thấy sức mạnh khủng khiếp khi thiên nhiên nổi giận. Đó cũng là lời cảnh tỉnh cho tất cả chúng ta rằng cần có ý thức bảo vệ môi trường trong xã hội hiện đại ngày nay.
III. Trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa trang 24
Phần Soạn văn Sơn Tinh – Thủy Tinh dưới đây sẽ hướng dẫn các em trả lời chi tiết 6 câu hỏi trong sách giáo khoa.
Câu 1. Nêu những điểm giống nhau và khác nhau về cốt truyện, cách kể giữa truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh với bài thơ cùng tên của Nguyễn Nhược Pháp.
Điểm giống nhau:
Bài thơ vẫn dựa trên cốt truyện chính của truyền thuyết dân gian Sơn Tinh, Thủy Tinh: vua Hùng kén chồng cho Mị Nương; Sơn Tinh và Thủy Tinh cùng đến cầu hôn; vua Hùng đặt ra điều kiện sính lễ; Sơn Tinh đến trước và cưới được Mị Nương; Thủy Tinh tức giận dâng nước đánh Sơn Tinh; cuộc giao tranh giữa hai vị thần diễn ra dữ dội và về sau Thủy Tinh vẫn tiếp tục dâng nước đánh Sơn Tinh.
Điểm khác nhau:
Nguyễn Nhược Pháp không kể lại truyền thuyết một cách nguyên xi mà có nhiều sáng tạo, bổ sung chi tiết và sử dụng giọng kể hóm hỉnh, trẻ trung. Nhà thơ miêu tả cụ thể ngoại hình Mị Nương, Sơn Tinh, Thủy Tinh; thêm màn hai vị thần thi tài; miêu tả đám cưới, tâm trạng các nhân vật và cuộc giao tranh rất sinh động. Vì vậy, câu chuyện vừa có màu sắc thần thoại, vừa gần gũi, vui tươi và giàu chất thơ hơn so với cách kể dân gian.
Câu 2. Phép thuật của Sơn Tinh và Thủy Tinh thể hiện cụ thể như thế nào? Người kể chuyện có bộc lộ thái độ thiên vị đối với nhân vật nào không? Dựa vào đâu em kết luận như vậy?
Phép thuật của Thủy Tinh thể hiện ở khả năng gọi nước, tạo nên cảnh tượng dữ dội:
- Nước dâng lên khắp nơi.
- Cây xiêu, cầu gãy.
- Sóng cuộn, gầm réo.
- Nhà cửa, bò lợn bị nước cuốn trôi.
Sức mạnh của Thủy Tinh mang tính phá hủy, dữ dội và đáng sợ.
Phép thuật của Sơn Tinh lại thể hiện ở khả năng điều khiển đất núi:
- Niệm chú làm núi, đồi và đất dâng cao.
- Chống lại dòng nước của Thủy Tinh.
- Bảo vệ Mị Nương và con người khỏi sự tàn phá của nước lũ.
Qua đó, Sơn Tinh hiện lên với sức mạnh chế ngự thiên tai và bảo vệ sự sống.
Theo em, người kể chuyện có phần thiên vị Sơn Tinh. Điều đó thể hiện ở cách miêu tả Sơn Tinh khá vui vẻ, tự tin, bình tĩnh; khi Thủy Tinh phô diễn sức mạnh khiến vua Hùng và Mị Nương sợ hãi thì Sơn Tinh lại chủ động trấn an Mị Nương và dùng phép thuật khắc chế. Trong cuộc chiến sau đó, Sơn Tinh cũng được đặt ở vị thế chống đỡ, bảo vệ, còn Thủy Tinh là người gây ra sự tàn phá.
Câu 3. Liệt kê những chi tiết miêu tả Mị Nương. Những chi tiết đó giúp em hình dung thế nào về nhân vật?
Mị Nương được miêu tả qua các chi tiết:
- “xinh như tiên trên trần”;
- “Tóc xanh viền má hây hây đỏ”;
- “Miệng nàng hé thắm như san hô”;
- “Tay ngà trắng nõn, hai chân nhỏ”;
vẻ đẹp của nàng khiến “bao nhiêu người làm thơ”.
Những chi tiết trên giúp người đọc hình dung Mị Nương là một cô gái xinh đẹp, trẻ trung, duyên dáng, mềm mại và đáng yêu. Tác giả không chỉ nói chung chung rằng Mị Nương đẹp mà còn miêu tả cụ thể mái tóc, gương mặt, đôi môi, đôi tay, đôi chân nên nhân vật trở nên sống động và gần gũi hơn.
Ngoài ra, trong cuộc giao tranh, Mị Nương còn hiện lên là một cô gái có tâm hồn nhạy cảm, dễ xúc động. Trước cảnh đánh nhau dữ dội, nàng “kinh hãi”, mắt lệ nhòa và lên tiếng cầu xin hai vị thần dừng lại.
Tiếp theo trong phần Soạn văn Sơn Tinh, các em sẽ tìm hiểu cảnh giao tranh giữa hai vị thần và những yếu tố kì ảo đặc sắc của bài thơ.
Câu 4. Cảnh giao tranh giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh được nhà thơ miêu tả bằng những chi tiết nào? Phân tích một chi tiết gây ấn tượng mạnh đối với em.
Cảnh giao tranh được miêu tả bằng hàng loạt chi tiết dữ dội:
- Thủy Tinh cưỡi lưng rồng hung hăng.
- Cá voi quật mõm, cá mập quẫy đuôi, cua giơ càng, tôm kênh chạy.
- Sơn Tinh niệm chú làm đất, núi dâng cao.
- Hùm, voi, báo cùng lao vào trận chiến.
- Mây đen, sấm ran, sét nổ.
- Muông thú hoảng loạn, cảnh vật hỗn độn.
- Máu chảy, tiếng kêu vang lên khắp nơi.
Tất cả tạo nên một cuộc chiến có quy mô lớn, dữ dội như cả thiên nhiên đang cùng tham gia.
Chi tiết gây ấn tượng mạnh với em là cảnh “mây đen hăm hở bay mù mịt, sấm ran, sét động nổ lòe xanh”. Hình ảnh này khiến cuộc chiến không còn chỉ là cuộc đối đầu giữa hai nhân vật mà trở thành một trận chiến mang tầm vóc vũ trụ. Màu sắc, âm thanh và chuyển động được kết hợp dồn dập làm người đọc cảm nhận rõ sự dữ dội, căng thẳng và khủng khiếp của cuộc giao tranh.
Câu 5. Tính chất kì ảo thể hiện như thế nào trong câu chuyện được kể bằng thơ này? Cách miêu tả những yếu tố kì ảo có gì đặc sắc?
Tính chất kì ảo của bài thơ được thể hiện qua:
- Sơn Tinh có “một mắt ở trán”.
- Thủy Tinh có “râu ria quăn xanh rì”.
- Sơn Tinh cưỡi bạch hổ, Thủy Tinh cưỡi rồng.
- Hai vị thần đều có phép thuật phi thường.
- Thủy Tinh có thể gọi nước, làm dậy sóng, gây lũ lụt.
- Sơn Tinh có thể niệm chú làm núi đồi dâng cao.
- Các loài thú trên rừng và dưới nước cùng tham gia cuộc chiến.
Đây đều là những chi tiết vượt ra ngoài khả năng của con người, tạo nên thế giới thần linh đầy tưởng tượng.
Điểm đặc sắc là Nguyễn Nhược Pháp miêu tả các yếu tố kì ảo rất cụ thể, sinh động và có phần hóm hỉnh. Thần linh trong bài thơ không quá xa cách mà có dáng vẻ, cảm xúc và hành động gần với con người: biết yêu, ghen, vui, buồn, tức giận. Nhờ vậy, câu chuyện thần thoại vừa huyền ảo vừa gần gũi, hấp dẫn.
Câu 6. Theo em, điều gì làm nên sức hấp dẫn của bài thơ Sơn Tinh – Thủy Tinh?
Sức hấp dẫn của bài thơ được tạo nên bởi nhiều yếu tố.
Trước hết, tác giả dựa trên một truyền thuyết quen thuộc nhưng có nhiều sáng tạo mới mẻ, khiến câu chuyện cũ trở nên mới lạ. Các nhân vật như Mị Nương, Sơn Tinh, Thủy Tinh đều được miêu tả cụ thể hơn về ngoại hình, tính cách và cảm xúc.
Bên cạnh đó, bài thơ có trí tưởng tượng phong phú, nhiều chi tiết kì ảo và những cảnh tượng hoành tráng như màn thi tài và cuộc giao tranh giữa hai vị thần.
Đặc biệt, ngôn ngữ thơ sinh động, giàu hình ảnh, giàu âm thanh và có giọng điệu hóm hỉnh giúp câu chuyện trở nên vui tươi, gần gũi, dễ đọc và dễ nhớ. Từ một truyền thuyết dân gian quen thuộc, Nguyễn Nhược Pháp đã tạo nên một tác phẩm có màu sắc riêng, vừa cổ tích, huyền ảo vừa trẻ trung, đáng yêu.
IV. Tổng kết bài soạn văn Sơn Tinh – Thủy Tinh
1. Nghệ thuật
Bằng những hình ảnh phong phú, sáng tạo, Nguyễn Nhược Pháp đã tái hiện một truyện thuyết quen thuộc thành một bài thơ hấp dẫn, cuốn hút độc giả.
Ngôn ngữ thơ mới mẻ, sinh động, hấp dẫn dễ hiểu.
2. Nội dung
Ngoài việc tái hiện lại một truyện thuyết nổi tiếng của người Việt, Nguyễn Nhược Pháp gửi gắm một thông điệp về tình yêu vô cùng sâu sắc. Đó chính là sức mạnh của tình yêu trong cuộc sống.
Hy vọng rằng bài soạn văn Sơn Tinh – Thủy Tinh lớp 9 ngắn nhất PDF ở trên đã giúp các em nắm vững nội dung, hiểu rõ giá trị tư tưởng – nghệ thuật của tác phẩm, đồng thời có thêm định hướng để tự rèn luyện kỹ năng phân tích và cảm thụ văn học tốt hơn.
Kiến thức về Soạn văn lớp 9 được triển khai cực chi tiết và dễ hiểu trong cuốn Làm chủ kiến thức Ngữ Văn bằng sơ đồ tư duy lớp 9 – Luyện thi vào 10 phần 1: Đọc – Hiểu văn bản. Các em có thể mua sách về để tham khảo thêm nội dung này và các bài soạn văn khác nhé!
Link đọc thử sách: https://drive.google.com/file/d/1oRktCcLMCR0pFWRuTIYBdnULy3Iam5xx/view?usp=sharing
Đặt mua sách với giá ưu đãi 20%:

Tkbooks tự hào là nhà xuất bản sách tham khảo lớp 9 hàng đầu tại Việt Nam.

