Trong quá trình sử dụng từ Hán Việt, chúng ta có thể gặp những yếu tố có cách đọc giống hoặc gần giống nhau nhưng mang ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Bài soạn một số yếu tố Hán Việt dễ nhầm lẫn lớp 9 Kết nối tri thức dưới đây sẽ giúp các em nhận biết, phân biệt và sử dụng chính xác các yếu tố Hán Việt, đồng thời hoàn thành các bài tập trong SGK.
I. Một số yếu tố Hán Việt dễ nhầm lẫn
Một số yếu tố Hán Việt dễ nhầm lẫn thường thuộc hai nhóm chính là các yếu tố đồng âm và các yếu tố gần âm. Nếu không hiểu rõ nghĩa của từng yếu tố, người sử dụng rất dễ nhầm lẫn và dùng từ sai nghĩa.
1. Các yếu tố Hán Việt đồng âm
Do chữ Quốc ngữ là loại chữ ghi âm nên những yếu tố Hán Việt đồng âm thường được ghi giống nhau, mặc dù chúng có ý nghĩa khác nhau. Đây là một trong những nguyên nhân dễ gây nhầm lẫn trong quá trình sử dụng.
Ví dụ:
- thủ có nghĩa là đầu, đứng đầu trong thủ trưởng;
- thủ có nghĩa là giữ trong thủ quỹ, thủ môn.
Một số trường hợp khác:
- ái: bụi bặm trong trần ai;
- ái: buồn trong ái oán, ai điếu, bi ai,…
- bảo: chăm sóc, giữ gìn trong bảo vệ, bảo dưỡng, bảo tàng,…
- bảo: quý trong bảo vật, bảo kiếm, quốc bảo,…
Trong tiếng Hán, những yếu tố đồng âm này được biểu thị bằng các chữ viết khác nhau nên có thể phân biệt rõ về nghĩa. Tuy nhiên, trong tiếng Việt hiện đại, chữ Quốc ngữ ghi âm khiến nhiều yếu tố Hán Việt đồng âm được viết giống nhau, từ đó dễ dẫn đến nhầm lẫn.

2. Các yếu tố Hán Việt gần âm
Không chỉ những yếu tố đồng âm, các yếu tố Hán Việt có âm đọc gần giống nhau cũng dễ gây nhầm lẫn. Việc không phân biệt được nghĩa của chúng có thể dẫn tới lỗi dùng từ sai.
Ví dụ, tri có nghĩa là biết, trong khi trí liên quan đến khả năng nhận biết, hiểu biết. Vì vậy, nếu viết:
Đội ngũ tri thức phải tiên phong trong công cuộc phát triển khoa học, công nghệ.
thì từ tri thức đã được sử dụng không phù hợp. Trong trường hợp này phải dùng trí thức mới đúng.
II. Cách phân biệt một số yếu tố Hán Việt dễ nhầm lẫn
Để tránh sử dụng sai một số yếu tố Hán Việt dễ nhầm lẫn, các em có thể dựa vào nghĩa của từ chứa yếu tố đó để suy luận hoặc sử dụng từ điển để tra cứu. Quan trọng nhất là phải đặt yếu tố Hán Việt trong từng từ và ngữ cảnh cụ thể.
1. Dựa vào từ chứa yếu tố Hán Việt đồng âm để suy luận
Khi gặp những yếu tố Hán Việt đồng âm, chúng ta có thể xem xét nghĩa của toàn bộ từ chứa yếu tố đó, sau đó suy luận nghĩa của từng yếu tố.
Ví dụ, di cư và di sản đều chứa yếu tố di nhưng nghĩa của hai yếu tố này không giống nhau:
- di cư: chuyển đến nơi khác, nước khác để sinh sống → di mang nghĩa chuyển dịch.
- di sản: tài sản của người đã mất để lại → di mang nghĩa để lại.
Khi đã hiểu hai nghĩa trên, chúng ta có thể dựa vào nghĩa của các từ như di cảo, di động, di chuyển, di dân, di truyền,… để xác định yếu tố di thuộc nghĩa nào.
Tương tự:
- thương thảo: thảo luận, thương lượng để đi đến thỏa thuận → thảo mang nghĩa liên quan đến bàn bạc, trao đổi.
- thảo mộc: cỏ cây → thảo mang nghĩa là cỏ.
Như vậy, hai yếu tố thảo trong hai từ trên là những yếu tố Hán Việt đồng âm nhưng khác nghĩa
2. Tra cứu từ điển
Khi chưa xác định được chính xác nghĩa của một yếu tố Hán Việt, cách đáng tin cậy là tra cứu từ điển.
Việc đọc phần giải nghĩa của yếu tố Hán Việt và những ví dụ đi kèm sẽ giúp chúng ta nhận biết nghĩa của yếu tố đó trong từng trường hợp cụ thể, từ đó hạn chế nhầm lẫn khi sử dụng.
III. Giải bài tập trong SGK
Sau khi đã nắm được đặc điểm và cách phân biệt các yếu tố Hán Việt đồng âm, gần âm, các em có thể vận dụng kiến thức để giải bài tập. Dưới đây là phần hướng dẫn trả lời các câu hỏi trong SGK.
♦ Câu 1. Phân biệt nghĩa của các yếu tố Hán Việt trong mỗi trường hợp sau
a. “sinh” trong “sinh thành” và “sinh” trong “sinh viên”
sinh trong sinh thành: sinh ra.
sinh trong sinh viên: người học.
→ Hai yếu tố sinh đồng âm nhưng khác nghĩa.
b. “bá” trong “bá chủ” và “bá” trong “nhất hô bá ứng”
bá trong bá chủ: người đứng đầu, có quyền lực lớn.
bá trong nhất hô bá ứng: trăm, nhiều.
→ Hai yếu tố bá đồng âm nhưng mang nghĩa khác nhau.
c. “bào” trong “đồng bào” và “bào” trong “chiến bào”
bào trong đồng bào: bọc, nhau thai; đồng bào vốn chỉ những người cùng một bọc.
bào trong chiến bào: áo.
→ Hai yếu tố bào đồng âm nhưng khác nghĩa.
d. “bằng” trong “công bằng” và “bằng” trong “bằng hữu”
bằng trong công bằng: ngang bằng, không thiên lệch.
bằng trong bằng hữu: bạn bè.
→ Hai yếu tố bằng đồng âm nhưng khác nghĩa.
♦ Câu 2. Tìm một từ Hán Việt có yếu tố đồng âm với yếu tố được in đậm
Có thể tìm các từ như sau:
- kinh trong kinh ngạc → kinh đô.
- cung trong vào tới cung → cung cấp.
- nghi trong đa nghi → nghi lễ.
- ngộ trong tỉnh ngộ → ngộ độc.
Các yếu tố được tìm có cách đọc giống với yếu tố trong câu nhưng mang nghĩa khác nhau.
♦ Câu 3. Đặt bốn câu, mỗi câu sử dụng một từ tìm được ở bài tập 2
Có thể đặt câu như sau:
- Thăng Long từng là kinh đô của nhiều triều đại trong lịch sử Việt Nam.
- Nhà trường cung cấp đầy đủ tài liệu học tập cho học sinh.
- Trong buổi lễ, mọi người thực hiện các nghi lễ trang trọng.
- Chúng ta cần chú ý bảo quản thực phẩm để phòng tránh ngộ độc.
♦ Câu 4. Những từ in đậm trong các câu sau có yếu tố Hán Việt bị dùng sai. Hãy tìm hiểu nghĩa của các yếu tố đó để chỉnh sửa
a. “Mỗi tác phẩm văn học là một chính thể, trong đó, các yếu tố có quan hệ với nhau rất chặt chẽ.”
Từ dùng sai là chính thể.
Sửa thành:
Mỗi tác phẩm văn học là một chỉnh thể, trong đó, các yếu tố có quan hệ với nhau rất chặt chẽ.
Chỉnh thể là một thể thống nhất gồm nhiều bộ phận có quan hệ chặt chẽ với nhau.
b. “Trên thế giới có nhiều hình thức tổ chức nhà nước, thể hiện sự đa dạng về chính thể.”
Trong câu này, chính thể được sử dụng đúng. Chính thể chỉ hình thức tổ chức của một nhà nước
→ Hai yếu tố chỉnh và chính có âm gần nhau nhưng khác nghĩa, vì vậy cần chú ý để tránh nhầm lẫn.
♦ Câu 5. Nghĩa của từ “cải biên” khác với nghĩa của từ “cải biến” như thế nào? Điều gì tạo nên sự khác nhau về nghĩa giữa hai từ đó?
Cải biên: sửa đổi, chuyển thể một tác phẩm hoặc nội dung có sẵn thành một hình thức khác cho phù hợp với mục đích mới.
Cải biến: làm thay đổi, biến đổi một sự vật hoặc trạng thái so với ban đầu.
Ví dụ:
-
Truyện được cải biên thành kịch bản sân khấu.
-
Con người đã cải biến vùng đất hoang thành khu canh tác.
Sự khác nhau về nghĩa của hai từ được tạo nên bởi hai yếu tố biên và biến. Đây là hai yếu tố gần âm nhưng mang nghĩa khác nhau: biên gắn với việc sửa đổi, biên soạn; còn biến mang nghĩa thay đổi, biến đổi.
Qua bài học về một số yếu tố Hán Việt dễ nhầm lẫn, các em cần chú ý đến những yếu tố đồng âm, gần âm và luôn xem xét nghĩa của chúng trong từng từ, từng ngữ cảnh cụ thể. Hy vọng phần hướng dẫn trên sẽ giúp các em hoàn thành tốt bài tập, đồng thời hạn chế những lỗi dùng từ Hán Việt thường gặp trong nói và viết.
Để tham khảo thêm các bài soạn văn 9 khác, các em hãy mua ngay cuốn sách Làm chủ kiến thức Ngữ văn lớp 9 bằng sơ đồ tư duy – luyện thi vào 10 Phần 2: Tiếng Việt – Tập làm văn nhé!
Link đọc thử sách: https://drive.google.com/file/d/1rNHaFCnRgOCdxSQ2nh_UIUGGZz7ooYpn/view?usp=sharing
Tkbooks tự hào là nhà xuất bản sách tham khảo lớp 9 hàng đầu tại Việt Nam!

