Đề văn nghị luận thi vào 10 bám sát cấu trúc đề thi thực tế

Đề văn nghị luận thi vào 10 bám sát cấu trúc đề thi thực tế

Bộ đề văn nghị luận thi vào 10 bám sát cấu trúc đề thi thực tế dưới đây sẽ cung cấp cho các em các dạng đề nghị luận xã hội mang tính thời sự, gợi mở tư duy và các đề nghị luận văn học chuyên sâu (bao gồm cả mảng thơ và truyện ngắn).

Hãy cùng khám phá và thử sức ngay để chuẩn bị hành trang vững vàng nhất cho kỳ thi sắp tới nhé!

I. Đề văn nghị luận xã hội thi vào 10

♦ Đề 1:

Hiện nay, nhiều học sinh có xu hướng thu mình, ngại thể hiện bản thân. Em hãy viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về vấn đề trên và đề xuất cách khắc phục.

♦ Đề 2:

Viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) bày tỏ suy nghĩ của em về vấn đề: Làm thế nào để gia đình trở thành điểm tựa bình yên nhất của mỗi con người?

♦ Đề 3:

Thói quen dựa dẫm, thiếu chủ động trong học tập và công việc đang trở thành một “căn bệnh âm thầm” của một bộ phận giới trẻ. Là người trẻ trong xã hội hiện đại, em sẽ làm gì để góp phần thay đổi thực trạng đáng buồn này? Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày quan điểm của bản thân.

♦ Đề 4:

Mỗi khi mạng xã hội lan truyền một vụ việc bạo lực học đường, ai nấy đều phẫn nộ và xót xa. Thế nhưng, dường như sau những cơn “dậy sóng” ấy, vấn nạn này vẫn tiếp diễn.

Ở tuổi mười lăm – độ tuổi với nhiều nông nổi trong cảm xúc và hành động, làm thế nào để mỗi học sinh có thể tự bảo vệ mình và góp phần chấm dứt bạo lực học đường?

Hãy trình bày quan điểm và suy nghĩ của em về vấn đề trên bằng một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ).

♦ Đề 5:

Tuổi học trò là quãng thời gian đẹp nhất, nhưng cũng là lúc chúng ta đối diện với những áp lực nặng nề. Trong đó, áp lực đồng trang lứa chính là điều khiến nhiều học sinh cảm thấy loay hoay giữa những kì vọng, so sánh và nỗi sợ bị bỏ lại phía sau. Viết bài văn trình bày suy nghĩ của em về cách để vượt qua áp lực đồng trang lứa đối với học sinh hiện nay.

♦ Đề 6:

Những cuốn sách không chỉ là những trang giấy in chữ, mà là cả thế giới mở ra trước mắt người trẻ. Nhưng giữa bộn bề mạng xã hội và nhịp sống hối hả, thói quen đọc sách dường như bị bỏ quên. Viết bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về hiện tượng văn hoá đọc đang dần bị mai một.

♦ Đề 7:

Trong lời thoại của bộ phim: “Khi cuộc đời cho bạn quả quýt” có câu: “Người mẹ luôn nhớ về những lỗi lầm đã gây ra cho con còn con thì chỉ nhớ đến những sự thất vọng nhỏ nhặt”. Viết bài văn nghị luận xã hội bàn về vấn đề được đặt ra từ lời thoại phim trên.

♦ Đề 8:

Nhà văn người Anh A.A Milne đã từng nói: “Thời gian vội vã lao đi, cơ hội nảy sinh rồi tan biến. Vậy mà bạn vẫn đang chờ đợi và không dám thử – Con chim có đôi cánh mà không dám bay lên”. Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về sự cần thiết của việc nắm bắt cơ hội đối với tuổi trẻ trong thời đại 4.0.

♦ Đề 9:

Trong dòng chảy của đời sống hiện đại, nhiều giá trị văn hóa truyền thống đang dần bị thu hẹp không gian tồn tại, chỉ còn xuất hiện trong sách vở, lễ hội mang tính trình diễn hoặc nằm lặng lẽ trong các bảo tàng. Không ít người trẻ biết đến văn hóa truyền thống như một phần của quá khứ, nhưng lại cảm thấy xa lạ, ít gắn bó và khó ứng dụng vào đời sống hằng ngày. Thực tế ấy đặt ra một câu hỏi đáng suy ngẫm: làm thế nào để văn hóa truyền thống không chỉ được “bảo tồn”, mà còn tiếp tục được sống, được kế thừa và lan tỏa trong đời sống hiện đại?

Từ gợi dẫn trên, em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để các yếu tố văn hóa truyền thống không còn bị đặt trong bảo tàng?

♦ Đề 10:

Charles Darwin từng nói: “Sự sống còn không phải là của kẻ mạnh nhất mà là của kẻ biết thích nghi tốt nhất”. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về ý kiến trên.

♦ Đề 11:

Em hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về câu hỏi: Người trẻ hiện nay nên sống với ước mơ của mình hay sống theo kì vọng của cha mẹ?

♦ Đề 12:

Trong thời đại công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng trở nên phổ biến và có thể hỗ trợ con người trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là học tập. Tuy nhiên, việc sử dụng AI cũng đặt ra thách thức về cách sử dụng hiệu quả và tránh lệ thuộc.

Hãy viết bài nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về cách tận dụng trí tuệ nhân tạo để nâng cao năng lực học tập ở học sinh hiện nay.

♦ Đề 13:

Trong cuộc sống bộn bề, con người ta có thể dễ rơi vào trạng thái “kẹt lại”: “Kẹt lại” giữa những ký ức đẹp giúp ta có được giây phút vỗ về trong hoài niệm ấm áp. “Kẹt lại” giữa những suy nghĩ tiêu cực khiến ta chìm trong chuỗi ngày bi quan chán nản. Từ thực tế trên, em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) để trả lời câu hỏi: Làm thế nào để các bạn trẻ không bị “kẹt lại” giữa những suy nghĩ tiêu cực?

♦ Đề 14:

Trong xã hội hiện đại, bên cạnh nhiều học sinh chăm ngoan, có ý thức học tập và rèn luyện, vẫn còn không ít bạn sa vào lối sống ăn chơi, đua đòi, chạy theo hình thức và những giá trị bề nổi.

Em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về thói ăn chơi, đua đòi của học sinh hiện nay.

♦ Đề 15:

Viết bài văn nghị luận về thái độ luôn coi con người là quan trọng nhất trong mối quan hệ với thế giới tự nhiên; từ đó đề xuất giải pháp để giúp các bạn trẻ biết tôn trọng sự đa dạng của thế giới tự nhiên.

>>> Xem thêm: Cách viết đoạn văn nghị luận xã hội thi vào 10 chuẩn và dễ nhất

II. Đề văn nghị luận văn học thi vào 10

1. Đề nghị luận văn học về truyện

Đề 1: Viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích truyện ngắn “Áo tết” (Nguyễn Ngọc Tư).

ÁO TẾT

Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho: Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi. 

Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó. 

Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp Một tới lớp Năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá trời nên tính trước, nếu mùng Một con bé Em đi về ngoại thì mùng Hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn. 

Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi xách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm: 

Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mấy có đồ mới chưa? 

Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.

Vậy mấy được mấy bộ?

Có một bộ hà.

Con bé Em trợn mắt:

Ít quá vậy?

Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.

Vậy à?

Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không. Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:

Còn mấy?

Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng Một tới mùng Bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sảy luôn.

Mấy sướng rồi.

Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh Hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới, má nó nói hoài, “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng: 

Bộ đồ mấy mai chắc đẹp lắm, bữa mùng Hai mấy mặc bộ đó đi nhà cô hen? 

Rồi tới mùng Một, mùng Hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen: 

Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nòng.

Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em. Thiệt đó. 

(Nguyễn Ngọc Tư, Xa xóm mũi (tập truyện), NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016)

Đề 2: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nội dung chủ đề của truyện “Bà cho” (Vũ Tú Nam).

BÀ CHO

Không nhớ tôi được gặp bà tôi lần đầu tiên vào bao giờ, chỉ biết lớn lên là tôi đã có bà tôi rồi. Bà đây là bà nội sinh ra bố tôi, chứ bà ngoại thì đã mất từ hồi mẹ tôi còn bé.

Bà nội ở với bác Mai tôi. Bà tôi bận lắm, cặm cụi công việc suốt ngày. Nhưng chả lần nào đi chợ mà bà không tạt vào thăm hai anh em tôi, cho chúng tôi khi thì tấm bánh đa, quả thị, khi thì củ sắn luộc hoặc mớ táo. Ăn quả của bà rất thích, nhưng ngồi vào lòng bà nghe bà kể chuyện còn thích hơn nhiều. Bà tôi đến tận bây giờ vẫn chưa biết chữ đâu, các bạn ạ. Thế mà bà kể chuyện Tấm Cám, chuyện Thạch Sanh, so với sách chả sai tí nào. Anh tôi hỏi bà: “Bà ơi, hồi bé sao bà không chịu đi học?” Bà cười, xoa đầu anh tôi: “Đã có bác mày, bố mày học hộ cho bà rồi”. 

Ông nội tôi mất sớm. Một mình bà nuôi hai con trai là bác tôi và bố tôi. Lớn lên, hai người đều đi bộ đội cả. Bác Mai tôi hiền và ít nói lắm. Thế nhưng bác đã nói với các cháu một điều “bí mật”: tên bà nội là Mơ, Trần Thị Mơ. Thế mà ngày trước tôi tưởng tên bà là Bà!

Từ ngày biết tên thật của bà nội, chúng tôi càng quý bà hơn, chắc chắn ngày xưa bà cũng bé như chúng tôi. Người ta gọi bà là “chị Mơ, cô Mơ”… Có điều bà không được đi học, mà phải đi ở, chăn trâu cắt cỏ khó nhọc lắm. Sau khi ông nội tôi mất, làng bị Pháp chiếm, bà tôi chạy tản cư, tay dắt bác Mai tôi khi ấy mới lên bảy, vai bà gánh một gánh quần áo rách và đồ đạc, nồi niêu, có cả bố tôi mới biết đi ngồi thu lu trong cái thúng. Chuyện này mỗi lần kể lại, bố tôi vừa cười vừa rơm rớm nước mắt thương bà.

Thế rồi bà có được nghỉ đâu. Ngày Mỹ ném bom, bà lại phải đưa chúng tôi đi sơ tán, xa tít tắp ở mãi gần chùa Mộc. Những đêm B.52, chả đêm nào bà ngủ.

Gần đây thì bà đỡ vất vả rồi, nhưng bà không được khỏe như xưa nữa. Đã hai năm nay, bà đau chân chỉ quanh quẩn ở nhà. Bà không đi chợ được, cũng không đến chơi với các cháu được. Thế nhưng lần nào chúng tôi đến thăm bà, bà cũng có quà cho chúng tôi: khi thì mấy củ dong riềng, khi thì cây mía, quả na, hoặc mấy khúc sắn dây, toàn những thứ tự tay bà trồng ra.

Cách đây bốn tháng, bà tôi bị ngã nằm liệt giường. Bác tôi phải bón cơm, bón cháo cho bà như bón cho em bé. Mẹ tôi dẫn chúng tôi đến thăm bà luôn. Lần nào thấy chúng tôi bà cũng tủm tỉm cười – bà ốm, mà tôi không thấy bà kêu rên bao giờ.

Nhúc nhắc được là bà tôi gượng dậy, lết xuống đất, ngồi xổm nhích từng bước một quét nhà, quét sân.

Chiều qua đi học về, tôi chạy đến thăm bà, đưa biếu bà chiếc bánh giò mà dì Thuận tôi mới mua cho tôi ban trưa. Bà ngồi dậy, cười cười, rồi tay bà run run, bà mở cái nải của bà, đưa cho tôi một gói quà đặc biệt: ô mai sấu! 

Bà ơi bà! Ô mai sấu bà cho, cháu sẽ chia cho bố cháu, mẹ cháu và anh cháu…. Cháu biết rồi, bà ơi… Cứ sáng sớm, sau mỗi đêm mưa gió to, bà lại lần ra sân, bà nhặt những quả sấu rụng ở quanh gốc cây sấu bà trồng từ thời con gái. Rồi bà rửa, bà ngâm muối, bà phơi. Bà gói thành từng gói nhỏ, bà đợi các cháu đến, bà cho… 

Bà ơi, sấu bà muối hơi mặn một tí, nhưng ngon lắm bà ạ! Cháu ăn sấu bà cho, cháu cứ ứa nước mắt ra. Không phải tại sấu chua đâu, mà tại vì cháu yêu bà lắm! Sau này lớn lên, cháu biết lấy gì để đền đáp lại tấm lòng thương cháu của bà?

(Những truyện hay viết cho thiếu nhi, Vũ Tú Nam, NXB Kim Đồng, 2023, tr244-246)

Đề 3: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích tình cảm của Minh đối với ông ngoại trong truyện “Ông nội và ông ngoại” (Xuân Quỳnh).

ÔNG NỘI VÀ ÔNG NGOẠI

(Lược một đoạn: Minh sống với bố mẹ và ông nội ở Hà Nội. Minh rất gần gũi và yêu ông nội, không hề biết gì về ông ngoại vì ông ngoại đi từ ngày mẹ Minh còn rất bé. Ông vào Nam làm ăn, rồi đất nước chia cắt, ông ngoại không về nữa. Bao nhiêu năm bặt tin, mãi tới khi Sài Gòn giải phóng, có người từ Nam ra, cầm thư của ông ngoại đến cho mẹ, mẹ mới biết là ông còn ở Sài Gòn. Hai mẹ con Minh sửa soạn lên đường vào Sài Gòn gặp ông ngoại. Vào đến nơi, Minh thấy ông đã già yếu và sống rất nghèo khổ. Ông rất yêu thương Minh nhưng Minh vẫn thấy xa cách với ông.) 

Lại nói đến cái món đồ chơi của ông ngoại cho nữa chứ! Đó là cái xe gíp bằng sắt, có hai súng máy lắp đá lửa ở trên xe, khi vặn khoá rồi thả cho xe chạy thì khấu súng bắn ra những tia lửa nhỏ xíu. Minh cũng thích chiếc xe này đấy, nhưng giả thử nó mới thì thích hơn nhiều. Đằng này xe lại quá cũ rồi, lắm chỗ đã bong lớp mạ trắng và bắt đầu gỉ. 

Này, con đừng có nói thế, ông không yêu con sao ông toàn nhường thịt, cá cho con thôi.

Ông chả bảo với mẹ là ông thích ăn cá. Với lại ông bảo thích ăn đầu cá vì bao nhiêu mắm muối nó ngấm cả vào đó là gì. 

Con chả hiểu gì về ông cả. 

(Lược một đoạn: Thấy mẹ mắng và mắt mẹ đỏ hoe, Minh dần hiểu và không dám gây chuyện nữa.) 

Ban đêm ông bảo Minh nằm với ông cho vui. Giường ông rộng, nhưng miếng đệm mút lại hẹp và mỏng chỉ trải vừa một người nằm. Ông gối bọc quần áo rách. Chăn màn ông vàng khè và hôi hám. Ông để Minh nằm lên miếng đệm, còn ông nằm ra ngoài chiếu, sát trong tường. 

Sao ông không nằm nệm? – Minh rụt rè hỏi. 

À, vì ông thích nằm chiếu cho mát. Khí hậu trong này nóng bức lắm. Cháu ngủ đi. 

Ông nói vậy rồi hai ông cháu im lặng. Hình như ông cũng không ngủ được… 

Đã sắp hết một tháng kể từ ngày mẹ con Minh vào thăm ông ngoại. Mẹ bảo sắp hết phép, phải về. Minh cũng thấy nhớ nhớ ông ngoại. 

Ông ngoại tiễn mẹ con Minh ra bến xe. Trước khi mẹ con Minh lên xe, ông rút cái bút máy trong túi áo ra đưa cho Minh và nói: 

Ông chỉ còn cái bút này quý nhất ông cho cháu, cháu giữ lấy để viết thư cho ông. Ông già rồi, chả biết chết lúc nào, dùng cái bút này nó phí đi! 

Đó là cái bút Pi-lốt nắp mạ vàng, bút đã cũ lắm rồi, màu nắp đã bạc và xây sát cả. 

Cái xe gíp ông cho cháu ấy, ông cũng đã để dành từ lâu rồi, từ khi nghe tin mẹ cháu đẻ con trai, ông đã mua cái xe ấy, nhưng chả biết nhờ ai gửi cho cháu được, ông vẫn để chờ cháu đấy. 

Bây giờ Minh mới hiểu ra là tại sao cái xe gíp ấy nó lại cũ. Minh còn hiểu thêm là ông rất nghèo. Trước kia ông làm người giữ sách ở thư viện Sài Gòn, nhưng rồi sau, ông bị ho laơ, ba năm trời nằm trong bệnh viện làm phúc, chả có ai chăm sóc. Bây giờ ông già yếu quá rồi, chỉ quanh quẩn bán dần đồ đạc trong nhà để sống tạm. Ông sống có một mình, bà trẻ của ông đã bỏ đi khi ông ốm đau… 

Khi xe sắp chạy, cả mẹ và ông đều rân rấn nước mắt. Mẹ bảo: 

Thôi, ông về, trời sắp mưa rồi kia. Sang năm con lại cho cháu vào thăm ông. 

Nhưng ông ngoại vẫn đứng đó. Xe bắt đầu chuyển bánh, trời đổ cơn mưa.

Minh thấy ông giương cái ô đen lên. Ông đứng lẫn giữa bao nhiêu người và xe cộ. Xe chạy xa dần, rồi quặt vào một góc phố. Minh chỉ còn thấy chiếc ô đen giơ lên cao rồi khuất hẳn. Minh quay sang nhìn mẹ. Mẹ im lặng, nước mắt giàn giụa. Minh cũng nghẹn ngào muốn khóc. Thương ông ngoại quá đi mất! Bây giờ ông lại về một mình với căn phòng hẹp, với chăn màn cũ, vá. Minh thấy thương cả cái ô đen vừa khuất sau góc phố… 

Mẹ ơi, thế bây giờ ai nuôi ông? 

Bác con, bác con sắp chuyển công tác vào trong này để nuôi ông ngoại. 

Bao giờ con lớn con cũng nuôi ông ngoại. – Minh nói đến đây rồi rúc đầu vào lòng mẹ khóc thút thít.. 

(Những truyện hay viết cho thiếu nhi, Xuân Quỳnh, NXB Kim Đồng, 2023, tr.35-45)

Đề 4: Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nội dung chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn sau:

BÀ ỐM

Loan tưởng bà nội chỉ bị cảm cúm sơ sơ. Thế mà chiều hôm ấy, Loan đi học về, giật mình thấy mẹ rơm rớm nước mắt bảo bố và bác Xuân đã cáng bà đi cấp cứu ở bệnh viện huyện. Suốt đêm, mẹ và Loan ít ngủ, thương bà, lo cho bà. 

Hôm sau, bố ở huyện về, báo tin bà đã tỉnh, không có gì đáng ngại nữa. Bà dặn Loan phải chăm học, nhớ cho mái mơ ăn thêm rau (nó thích ăn rau lắm) và nhốt riêng con gà ri ra, kẻo nó hay bị con gà khác bắt nạt, tội nghiệp nó. 

Ôi, mới vắng bà có mấy ngày mà đàn gà cứ ngơ ngác cả ra. Bà chăm chúng nó thế thảo nào! Còn Loan thì nhìn vào đâu, sờ vào cái gì cũng thấy thiếu bà. Cái bình vôi ăn trầu của bà kia. Cái chổi bà thường luôn tay quét. Cái rế, cái nồi, cái rổ bát, bao giờ cũng chùi cũng xếp gọn gàng. Đến cây cối ngoài vườn cũng nhớ bà, các ngọn mướp cứ ngóc đầu lên chờ đợi được bàn tay tưới tắm. Cái giường bà nằm mà trống vắng buồn thiu, con cóc ở trong gầm cũng như sốt ruột, cứ nhảy ra rồi lại nhảy vào.

Vì phải đi thi, Loan không lên huyện thăm bà được. Nó chọn đúng mười quả trứng gà tươi nhất, do con gà mái hoa của nó đẻ – gửi bố mang đi biếu bà. Nó không quên viết gửi bà mấy chữ: 

“Bà yêu quý của cháu. 

Bà cứ yên tâm chữa bệnh, mẹ cháu mải làm đồng, cháu tưới vườn và chăm đàn gà đúng như lời bà dặn. Cháu làm bài thi tốt lắm, bà ạ. 

Cháu Loan của bà.” 

Trong thư nó không nói gì về mười quả trứng nó đã gửi biếu bà cả. Nó vốn là đứa trẻ tế nhị. Hôm ấy đúng ngày chủ nhật, bố đón bà ở bệnh viện huyện về. Bà còn xanh lắm, tay phải chống gậy, nhưng bà cười từ ngoài sân cười vào. Loan chạy ra ôm lấy bà, gục đầu vào ngực áo bà, khóc òa lên. Bà xoa xoa tóc Loan mắng yêu: 

Bố mày! Bà có chết đâu mà khóc! Nín đi, bà cho quà đây…. 

Loan nắm lấy tay bà, dắt bà vào giường. Bà bảo bố đưa cho bà cái bị. Bà xếp ra hai quả cam, sáu quả chuối và năm quả trứng gà. Bà bảo: 

Đây bà thưởng cho…. Nín đi, nín đi nào!… 

Loan ngước nhìn bà, khúc khích cười, nhưng miệng nó cười, mà mắt thì vẫn khóc. Vì nó biết bà đã dành dụm không ăn hết trứng và các thứ quà của nó cùng mọi người gửi biếu bà. Bà ơi, cháu yêu bà, cháu thương bà quá! 

(Trích Những truyện hay viết cho thiếu nhi, Vũ Tú Nam, NXB Kim Đồng, năm 2019, tr 215-217) 

 

Chú thích: Vũ Tú Nam (1929 – 2020) được xem là cây bút gạo cội, một cây đa cây đề thành công trong làng văn Việt Nam ở cả hai lĩnh vực, viết cho người lớn và trẻ em. Ông viết cả truyện ngắn, ký và thơ nhưng sở trường là truyện ngắn. Những áng văn của ông đẹp, giàu cảm xúc, cô đọng được viết nên từ chính tấm lòng yêu quý và trân trọng thế hệ trẻ. Năm 2001 ông là một trong những nhà văn được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học và nghệ thuật.

Đề 5: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích một nét tính cách của người bố được thể hiện trong tác phẩm sau:

BỨC THƯ CỦA MỘT NGƯỜI CHA

Hôm nay đi học về, tôi thấy trên bàn học của mình có một phong thư. Mặt ngoài phong thư ghi rõ: “Gửi con trai yêu quý của bố”. Tôi hồi hộp bóc thư ra đọc. Trong thư bố viết:

“Con trai yêu quý của bố!

Bố viết thư này cho con khi con vừa tròn mười bốn tuổi. Đây là cái tuổi con bắt đầu có những suy nghĩ chín chắn hơn về cuộc sống.

Con ạ! Hôm qua, lúc đi làm về, bố thấy con ngồi một mình trong phòng, gương mặt buồn rượi. Bố hỏi thì con bảo: “Con buồn vì các bạn trong lớp ai cũng có xe đạp mới, quần áo đẹp, còn con thì không”. Nghe con nói vậy, lòng bố thắt lại. Bố biết, gia đình mình còn nhiều khó khăn, bố mẹ chưa thể lo cho con bằng bạn bằng bè. Nhưng con ơi, con có biết rằng, để con có được bộ quần áo lành lặn đi học, có được những bữa cơm no, bố mẹ đã phải làm việc vất vả thế nào không?

Bố không trách con vì những suy nghĩ đó, bởi ở tuổi của con, ai cũng muốn mình bằng bạn bằng bè. Nhưng bố muốn con hiểu rằng, giá trị của một con người không nằm ở bộ quần áo con mặc, chiếc xe con đi, mà nó nằm ở tri thức và đạo đức của con. Con hãy nhìn những người lao động nghèo xung quanh mình, họ vẫn sống vui vẻ và lương thiện đấy thôi.

Bố hy vọng, sau khi đọc xong bức thư này, con sẽ hiểu cho nỗi lòng của bố mẹ. Hãy cố gắng học tập thật tốt, đó là món quà lớn nhất con dành cho bố mẹ.

Chúc con trai của bố luôn mạnh khỏe và trưởng thành!

Người bố luôn yêu con”

Đọc xong bức thư của bố, nước mắt tôi cứ thế trào ra. Tôi thấy hối hận vô cùng vì những suy nghĩ nông nổi của mình. Tôi tự hứa với bản thân sẽ cố gắng học tập thật tốt để không phụ lòng mong mỏi của bố mẹ.

(Theo Hạt giống tâm hồn, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2020)

Đề 6: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật người mẹ trong câu chuyện sau:

BÀN TAY CỦA MẸ

Một người mẹ có đứa con trai vừa tốt nghiệp đại học loại xuất sắc. Người con trai rất tự hào về thành tích của mình và tin rằng anh ta sẽ dễ dàng tìm được một công việc tốt tại một công ty lớn.

Ngày anh đến phỏng vấn tại một công ty nổi tiếng, vị giám đốc trực tiếp phỏng vấn anh. Nhìn vào hồ sơ học bạ xuất sắc của anh, vị giám đốc hỏi:

Anh đã từng được nhận học bổng nào trong trường chưa?

Người thanh niên trả lời:

Thưa ông, chưa ạ.

Vậy là cha anh đã trả toàn bộ học phí cho anh?

Thưa ông, cha tôi mất từ khi tôi còn nhỏ, chính mẹ tôi là người đã nuôi nấng và trả học phí cho tôi.

Mẹ anh làm công việc gì?

Mẹ tôi làm công việc giặt quần áo thuê ạ.

Vị giám đốc nghe vậy liền bảo người thanh niên đưa hai bàn tay ra cho ông xem. Người thanh niên đưa ra hai bàn tay trắng trẻo, mịn màng. Vị giám đốc lại hỏi:

Trước đây, anh có bao giờ giúp mẹ anh giặt quần áo không?

Thưa ông, chưa bao giờ. Mẹ tôi luôn muốn tôi dành toàn bộ thời gian cho việc học hành. Hơn nữa, mẹ tôi giặt đồ khéo hơn tôi nhiều.

Vị giám đốc thở dài và nói:

Tôi có một yêu cầu dành cho anh. Chiều nay khi trở về nhà, anh hãy giúp mẹ anh lau sạch đôi bàn tay của bà, rồi sáng mai hãy đến gặp tôi.

Người thanh niên cảm thấy yêu cầu này thật kỳ lạ, nhưng vì muốn có được công việc, anh hứa sẽ làm theo. Chiều hôm đó, khi về đến nhà, anh bảo mẹ để mình lau tay cho bà. Người mẹ cảm thấy rất ngạc nhiên nhưng cũng vui lòng đưa đôi bàn tay cho con.

Khi người thanh niên cầm đôi bàn tay của mẹ lên, nước mắt anh bắt đầu rơi. Đây là lần đầu tiên anh nhìn kỹ đôi bàn tay của mẹ mình. Đôi bàn tay đầy những vết chai sần, da dẻ nhăn nheo, và có nhiều vết nứt nẻ vì phải ngâm trong nước xà phòng lạnh giá suốt bao nhiêu năm qua. Có những vết nứt sâu đến nỗi làm bà đau đớn khi anh chạm nhẹ vào.

Lúc này, người thanh niên mới nhận ra rằng, chính đôi bàn tay nứt nẻ này của mẹ đã giặt hàng ngàn, hàng vạn bộ quần áo để đổi lấy tiền đóng học phí cho anh. Những vết chai sần trên tay mẹ chính là cái giá mà bà phải trả cho tấm bằng tốt nghiệp loại xuất sắc của anh ngày hôm nay. Sau khi lau sạch đôi bàn tay cho mẹ, người thanh niên lặng lẽ giúp mẹ giặt sạch tất cả chỗ quần áo còn lại.

Sáng hôm sau, người thanh niên đến gặp vị giám đốc với đôi mắt còn đỏ hoe. Vị giám đốc mỉm cười hỏi:

Anh có thể cho tôi biết anh đã làm gì và học được điều gì sau ngày hôm qua không?

Người thanh niên nghẹn ngào trả lời:

Thưa ông, tôi đã lau tay cho mẹ và giúp mẹ giặt quần áo. Bây giờ tôi mới hiểu được sự hy sinh thầm lặng của mẹ. Nếu không có mẹ, tôi sẽ không có được ngày hôm nay. Tôi cũng hiểu rằng, việc giúp đỡ mẹ là trách nhiệm của tôi, chứ không phải chỉ biết nhận lấy sự hy sinh của người khác.

Vị giám đốc gật đầu hài lòng và nói:

Đó chính là điều tôi cần ở một người quản lý. Tôi không chỉ cần một người có tài năng, mà còn cần một người biết trân trọng công sức và sự hy sinh của người khác. Anh đã trúng tuyển.

(Theo Quà tặng cuộc sống, NXB Trẻ, 2018)

Đề 6: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nét tính cách nổi bật của nhân vật người cha trong câu chuyện sau:

NHỮNG NGÔI SAO BAN NGÀY

Hồi tôi còn nhỏ, gia đình tôi sống ở một vùng quê nghèo. Bố tôi là một người thợ mộc mẫn cán. Ông làm việc từ sáng sớm đến tối mịt để nuôi sống cả gia đình năm miệng ăn. Đối với tôi, bố luôn là một người nghiêm khắc và ít nói. Tôi chưa bao giờ thấy bố cười hay khen ngợi tôi một lời, dù tôi luôn cố gắng học thật giỏi để làm bố vui.

Năm tôi học lớp năm, trường tổ chức một chuyến tham quan thủ đô. Chi phí cho chuyến đi đối với gia đình tôi là một khoản tiền lớn. Tôi rất muốn đi nhưng không dám xin bố. Một buổi tối, khi thấy bố đang ngồi đục đẽo bên chiếc bàn gỗ cũ, tôi rụt rè bước đến và nói nhỏ:

Bố ơi, tuần sau trường con tổ chức đi tham quan Hà Nội…

Bố dừng tay đục, nhìn tôi một lát rồi hỏi:

Chi phí hết bao nhiêu?

Tôi lý nhí trả lời một con số. Bố không nói gì thêm, chỉ lặng lẽ cúi xuống tiếp tục công việc. Lòng tôi trĩu nặng thất vọng. Tôi biết mình sẽ không được đi.

Đêm đó, tôi giật mình thức giấc bởi tiếng đục đẽo đều đặn phát ra từ xưởng mộc nhỏ bên hiên nhà. Tôi nhìn ra cửa sổ, bóng bố in trên vách tường dưới ánh đèn dầu tù mù. Bố đang cố làm thêm ca đêm để kiếm tiền cho tôi đi tham quan.

Sáng hôm sau, bố gọi tôi lại và đưa cho tôi một xấp tiền lẻ được vuốt phẳng phiu. Bố nói, giọng vẫn trầm và nghiêm nghị như mọi khi:

Cầm lấy mà nộp cho thầy giáo. Đi đứng cho cẩn thận, ra ngoài phải biết quan sát học hỏi người ta.

Tôi cầm xấp tiền từ tay bố, lòng nghẹn ngào không nói nên lời. Nhìn đôi bàn tay bố đầy những vết chai sần, ngón tay cái còn quấn một miếng vải hoen ố vì bị búa đập trúng đêm qua, nước mắt tôi cứ thế trào ra. Tôi chợt hiểu rằng, đằng sau vẻ nghiêm khắc, lạnh lùng của bố là một tình yêu thương bao la, thầm lặng mà ông dành cho chị em tôi. Tình yêu của bố không thể hiện bằng lời nói ngọt ngào, mà bằng những giọt mồ hôi, bằng sự hy sinh thầm lặng mỗi đêm dưới ánh đèn dầu. Chuyến đi Hà Nội năm ấy là chuyến đi đẹp nhất trong cuộc đời tôi, bởi tôi biết, hành trang tôi mang theo được dệt nên từ tình yêu vô bờ bến của bố.

(Theo Hạt giống tâm hồn, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2021)

Đề 7: Viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích nhân vật Tâm trong truyện ngắn “Trở về” (Thạch Lam).

(Lược dẫn: Tâm và vợ về nghỉ mát ở nhà một người bạn ở vùng thôn quê, gần nhà chàng. Tâm đưa vợ đi ăn tiệm, bảo vợ đợi mình ở đó để chàng về qua nhà thăm mẹ già khoảng chừng một tiếng)

Có đến năm, sáu năm nay. Tâm không về thăm quê nhà. Trong thời gian ấy, ở Hà Nội, Tâm gắng sức làm việc để giành một cái địa vị trong xã hội. Chàng lấy vợ, con một nhà giàu có, cũng không cho mẹ biết. Thỉnh thoảng chàng nhận được ở nhà quê gửi ra một bức thư mà chữ viết non nớt nguệch ngoạc, và lời lẽ quê kệch. Tâm chỉ đọc thoảng qua rồi không để ý đến. Sống trong hoàn cảnh giàu sang chắc chắn, Tâm không bao giờ nghĩ đến quê nhà nữa. Hoặc có nghĩ đến, chỉ để lại tự chế giễu mình, khi còn nhỏ, đã cho cái đời ở thôn quê là giản dị và sung sướng. Chàng mơ màng yêu một cô thôn nữ, và mong cùng nhau sống trong cảnh thanh bình dưới một túp lều tranh. Cái mộng ấy, bây giờ làm chàng khi nghĩ đến mỉm cười.

Không còn một cái liên lạc gì ràng buộc Tâm với thôn quê nữa. Những người họ hàng ở làng chỉ làm chàng sinh ghét, vì những sự đi lại nhờ vả lôi thôi. Còn đối với mẹ chàng, Tâm tin rằng đã làm đủ bổn phận mỗi khi tháng gửi về giúp bà cụ một số tiến, chàng lại càng tin như vậy lắm, khi nghĩ đến những cái khó khăn chẳng phải vượt qua để có số tiền ấy. Bao nhiều sự dối trá chàng phải cần đến để giấu không cho vợ biết!

(Lược dẫn: Tâm về đến sân nhà. Bà mẹ mừng ứa nước mắt, hỏi han sức khoẻ con trai, kể chuyện về Trinh – cô gái con bác cả hồi nhỏ vẫn hay chơi với Tâm. Một lát sau, Trinh sang chơi. Gặp lại Tâm, người con gái bẽn lẽn, e lệ.

Tâm nhận thấy, ở thôn quê, người ta không thay đổi mấy, và tính tình vẫn giữ được y nguyên. Nhưng chàng, thì chàng thay đổi khác hẳn rồi. Những kỉ niệm cũ đối với chàng bây giờ thành ra trẻ con và vô vị. Tâm không thấy có sự tha thiết giữa chàng và cảnh cũ nữa. Bây giờ, chàng không khi nào có cái ý tưởng điên rồ đi lấy một cô gái quê như Trinh để sống một cái đời tối tăm nghèo khổ.

Tâm lơ đãng nghe lời mẹ kể những công việc và cách làm ăn ngày một khó khăn ở làng. [..] Câu chuyện nhạt dần. Những câu hỏi và sự săn sóc của bà cụ về công việc của chàng chỉ làm cho Tâm khó chịu. Chàng trả lời qua loa lấy lệ.

(Lược dẫn: Nghĩ đến vợ đợi, Tâm vội vàng chào bà mẹ để đi, mặc cho bà cụ khẩn khoản giữ con ở lại ăn bữa cơm trưa. Trước khi đi, Tâm mở vì lấy ra bốn tấm giấy bạc năm đồng đưa cho mẹ.

Ra đến ngoài, Tâm nhẹ hẳn mình. Chàng tự cho là đã làm xong bổn phận.

Khi Tâm bước vào hàng cơm, vợ chẳng vui mừng lộ ra nét mặt, vì không ngờ chàng chóng thế. Trời hãy còn sớm. Hai vợ chồng rủ nhau đi ngắm cảnh, đợi đến chiều mát sẽ đi ô-tô về hứng gió […].

Bỗng nhiên, Tâm giật lùi lại: Một bà cụ già khom lưng dựa bên một cô gái, đi ra phía ga. Tầm nhận ra bà mẹ. Có lẽ bà cụ muốn được trông thấy con một lần nữa. Chắc bà tưởng Tâm đi xe hoả. Chàng lộ vẻ khó chịu. Bà cụ còn ra đây làm gì? Tâm sợ lúc bà cụ lại khóc lóc, để cố giữ chàng lại. Hay nắm lấy tay chàng mà kể lể giữa chốn đông người. Chàng tưởng nghe thấy những câu bình phẩm to nhỏ, và trông thấy những cái mỉm cười chế giễu của mọi người. Vợ chàng sẽ nói thế nào?

– Thôi, chúng ta về ngay đi.

Tâm nói như người sốt ruột, giật cánh tay vợ rảo bước mau.

Đợi bà cụ đi khuất đầu phố, Tâm và vợ trở lại nhà hàng trả tiền, rồi đánh xe ra ngoài. Máy chạy đều, cái xe êm ru bắt đầu lướt trên đất.

Khi đến chỗ quặt quá ga, bỗng nhiên Tâm thoáng thấy đứng bên cạnh đường, một bà cụ giả khom lưng dựa vào một cô con gái. Chiếc xe chạy bắn vọt bùn lên quần áo hai người. Trong một giây. Tâm thấy cặp mắt đen láy của cô gái quê mở to ngạc nhiên nhìn mình.

Tâm không ngoảnh lại, chàng nghĩ đến bà mẹ, đến cô Trinh vẫn chơi đùa với chàng thuở nhỏ. Song những hình ảnh ấy như xa xăm lắm, và Tâm vẫn thấy dửng dưng không bận tâm trí. Giữa những kỉ niệm ấy với Tâm, như có một cái bờ ngăn cản: xe ô tô, vợ chàng, cái đời sang trọng, sung sướng của chàng hiện giờ. Phong cảnh đồng ruộng hai bên đường vùn vụt trốn lại sau lưng như càng làm xa cách chàng với cảnh thôn quê cũ.

(Theo Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học, 2008, tr. 22 – 28)

Đề 8: Viết bài văn phân tích nhân vật Sherlock Holmes trong truyện “Cuộc phiêu lưu của viên ngọc lam” (Sir Arthur Conan Doyle).

CUỘC PHIÊU LƯU CỦA VIÊN NGỌC LAM

(Tóm tắt đoạn trước: Buổi sáng ngày Giáng sinh, một người đàn ông tên là Peterson mang đến cho thám tử Sherlock Holmes một cái mũ và con ngỗng – tang vật của một vụ án. Holmes đã bảo Peterson mang con ngỗng về giết thịt. Holmes giữ chiếc mũ lại để tìm hiểu về nó. Bỗng Peterson đến chỗ Holmes và cho biết vợ anh đã tìm thấy trong diều của con ngỗng một viên ngọc xanh. Holmes nhớ đó là viên ngọc lam của một nữ bá tước đã bị đánh cắp tại một khách sạn lớn, người ta đã buộc tội Honer – một người thợ sửa ống nước ở khách sạn đó lấy nó và đã chuyển vụ việc lên toà Đại hình. Holmes đã cho đăng tin tìm người sở hữu chiếc mũ và con ngỗng, sau đó người đàn ông sở hữu chúng đã đến chỗ Holmes, nói cho Holmes biết mình đã có con ngỗng đó như thế nào. Holmes lần theo manh mối để tìm đến địa chỉ bán con ngỗng kia. Người bán ngỗng đã cho Holmes biết mình mua ngỗng từ những ai, trong đó có bà Oakshot).

“Watson này, tôi nghĩ chúng ta đang đến gần đoạn cuối cuộc tìm kiếm rồi đấy, chỉ còn lại một điểm duy nhất cần xác định đó là chúng ta sẽ đi tiếp đến chỗ bà Oakshott tối nay, hay đợi đến ngày mai. Từ những gì gã cáu kỉnh đó nói, rõ ràng ngoài chúng ta, còn có những người khác cũng đang lo lắng về chuyện này, và tôi nên…”

Lời nói của Holmes đột ngột bị cắt ngang bởi tiếng ồn ào huyên náo từ quầy hàng mà chúng tôi vừa rời đi. Quay lại nhìn, chúng tôi thấy một gã mặt chuột, dáng người nhỏ thó, đang đứng giữa vòng tròn ánh sáng vàng vọt hắt ra từ ngọn đèn, còn… người bán hàng – đứng ở ngưỡng của quầy hàng, giận dữ vung nắm đấm về phía gã đàn ông đang co rúm lại.

“Tao chịu hết nổi mày và những con ngỗng của mày rồi, ông ta quát.

“Tao ước gì tất cả chúng mày cuốn xéo hết đi với quỷ. Nếu mày còn làm nhảm mấy chuyện ngu xuẩn ấy và làm phiền tao nữa, tao sẽ xua chó đuổi cắn mày. Mày đưa bà Oakshott đến đây và tao sẽ trả lời bà ta, nhưng con ngỗng thì liên quan gì đến mày? Tao đã mua mất những con ngỗng đó của mày à?”

“Không, nhưng dù sao thì một con trong đó là của tôi, gã đàn ông nhỏ thó kia rên rỉ.

“Thế thi đi mả hỏi bà Oakshott nhé.”

“Chị ấy bảo tôi hỏi ông

“Thế thì đi mà hỏi ông vua xứ Ba Tư ấy, vì tao cóc quan tâm. Tao chịu hết nổi rồi. Cuốn xéo khỏi đây ngay!. Ông ta giận dữ lao bổ tới, còn gã đàn ông kia vội lỉnh vào bóng tối.

“Ha! Chuyện này có thể giúp chúng ta khỏi phải đến đường Brixton nữa.

Holmes thì thầm.

“Đi với tôi nào, chúng ta sẽ xem gã này là thế nào.”

(Lược một đoạn: Holmes đuổi kịp gã đàn ông nhỏ thó kia, bảo với hắn mình là thám tử Sherlock Holmes, sẽ giúp hắn tìm hiểu về con ngỗng mà hắn đang quan tâm. Gã đàn ông đồng ý, kể với Holmes mình là James Ryder – tiếp viên trưởng của khách sạn – nơi nữ bá tước kia đã bị mất viên ngọc, chính hắn là người đã dẫn người sửa ống nước lên phòng của nữ bá tước để sửa chữa đồ đạc. Họ cùng nhau về chỗ Holmes, Holmes cho gã kia biết con ngỗng của gã đã từng ở đây.)

– Nó đã ở đây.

– Ở đây ư?

– Đúng vậy, và nó đã cho thấy là con ngỗng đáng chú ý nhất. Tôi không ngạc nhiên khi ông quan tâm đến nó như vậy. Nó đã đẻ một quả trứng sau khi chết… quả trứng nhỏ màu xanh đẹp nhất, long lanh nhất tôi từng thấy. Tôi đang giữ nó ở đây. trong kho lưu trữ của tôi.

Vị khách của chúng tôi lảo đảo trên hai chân và bàn tay phải tóm chặt lấy mặt lò sưởi. Holmes mở khoá chiếc hộp của anh và lấy ra viên ngọc màu xanh lam. Viên ngọc toả sáng lấp lánh như một vì sao, với thứ ánh sáng rực rõ, lạnh lẽo và toả theo nhiều hướng. Ryder đứng nhìn chằm chằm, mặt rầu rĩ, không biết nên nhận lấy hay chối bỏ nó.

– Trò chơi kết thúc rồi, Ryder, Holmes bình thản nói.

– Bám chắc vào, nếu không ông sẽ ngã vào đống lửa đẩy! Watson, anh hãy giúp hắn ta ngồi trở lại ghế. Gan của hắn không to đến mức sẵn sàng phạm tội mà không bận tâm hay lo sợ về hậu quả. Cho hắn uống một chút rượu brandy. Giờ trông hắn giống người hơn một chút rồi. Thật là một kẻ hèn hạ.!

(Lược một đoạn: Ryder đã kể cho Holmes nghe chính hắn là kẻ đã lấy viên ngọc trai, sau khi người thợ sửa ống nước bị bắt, hắn thấy cần phải đem viên ngọc ấy đi giấu. Hắn mang đến chỗ chị gái Oakshott – người làm nghề nuôi ngỗng. Trước đó, chị hắn đã hứa cho hắn một con ngỗng làm quà Giáng sinh. Hắn chọn một con và nhét viên ngọc vào cổ họng nó rồi định mang nó về. Nhưng do có hai con ngỗng giống nhau, sau cuộc nói chuyện với chị gái, hắn đã bắt nhầm con khác. Khi mổ ra không thấy viên ngọc đâu, hắn quay lại chỗ chị gái thì biết là chị hắn đã bán hết ngỗng cho một cửa hàng rồi. Hắn tìm đến cửa hàng đó nhưng họ cũng đã bán hết sạch ngỗng. Holmes mở cửa và bảo hắn đi, hắn chạy vội ra đường phố.)

– Rốt cuộc, Watson ạ. Sherlock Holmes nói, với tay về phía chiếc tẩu.

– Cảnh sát không trả công cho tôi để chỉ ra những thiếu sót của họ. Nếu Honer không gặp nguy hại thì chuyện sẽ khác, nhưng gã này sẽ không xuất hiện để làm chứng chống lại anh ta, nên vụ này sẽ bị huỷ án. Tôi nghĩ vừa có hành động giảm nhẹ một trọng tội, nhưng cũng có thể tôi đang cứu rỗi một linh hồn. Gã đàn ông này sẽ không phạm tội lần nữa đâu, hắn đã quá khiếp sợ rồi. Nếu bỏ tù hắn bây giờ, thi suốt đời hắn chỉ có vào tù ra tội mà thôi. Hơn nữa, thời điểm này trong năm đang là mùa của sự tha thứ. Chúng ta đã tình cờ gặp được một vụ án rất ki lạ và bất thường, chỉ riêng việc làm sáng tỏ nó thôi đã là một phần thưởng rồi.

(In trong Sherlock Holmes toàn tập, tập 1, NXB Văn học, tr. 464 – 488)

 

>>> Xem thêm: Cách viết đoạn văn nghị luận văn học về truyện thi vào 10

2. Đề nghị luận văn học về thơ

Đề 1: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) cảm nhận nội dung và nghệ thuật của văn bản“Ngày xưa có Mẹ”.

Mẹ!

Có nghĩa là bắt đầu

cho sự sống – Tình yêu – Hạnh phúc

Mẹ!

Có nghĩa là duy nhất

Một bầu trời – một mặt đất – một vầng trăng

Mẹ không sống đủ trăm năm

Nhưng đã cho con dư dả nụ cười, tiếng hát.

(Thanh Nguyên, Ngày xưa có Mẹ, trích tập thơ Có khi nào nhớ?, NXB Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 1987) 

(Văn bản trích từ đề minh họa thi vào 10 năm 2025 của Sở GD&ĐT Hà Nội)

Đề 2: Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của em về khổ thơ (5) trong văn bản sau:

THĂM THẦY GIÁO CŨ

Kính tặng thầy Hoàng Như Mai

(1) Hai mươi bốn năm xa

Con ngồi lặng bên thầy

Phố Nguyễn Du nồng nàn hoa sữa

Tóc thầy bạc phau

Mái tóc con nửa đời sương gió

 

(2) Đứa học trò thuở mười tám, đôi mươi

Lại lắng từng câu, lại nhập từng lời

Cái giọng nói một đời không quên được

Cái ánh lửa cháy lên trong cặp mắt

Hai bốn năm rồi, ấm mãi bên con.

 

(3) Có những đêm con nhỏ đến bồn chồn

Chiếc áo bông của thầy bạc màu nắng gió

Trời trở lạnh, đông về cuối ngõ

Rét đầu mùa, thầy ngủ có ngon không?

 

(4) Thầy đã giảng cho con về Đất nước, Nhân dân

Để khi mặc lành không quên người áo vá

Ăn miếng ngon nhớ bàn tay trồng khoai giỡ củ

Câu ca dao đau đáu một đời

 

(5) Con ngước lên. Con gặp mắt thầy

Đầm ấm quá. Con thành trẻ nhỏ

Những vui buồn thầy lặng nghe con kể

Có lúc nào thầy không ở bên con.

 

(6) Con nghe rất nhiều trong lặng im

Thầy thấu cả những điều con chưa nói

Phút giao cảm, thầy là tia nắng rọi

Con, cây xanh đang nẩy lộc trong vườn.

 

(7) Thầy tiễn con về. Phố lạnh hơi sương.

Con để mãi bàn tay trong tay thầy ấm áp

Và con biết đêm nay thầy lại thức…

1980 (Nguyễn Bùi Vợi, Tuyển tập thơ Nguyễn Bùi Vợi, NXB Văn học 2002, tr.106-107)

Chú thích: Nguyễn Bùi Vợi (1933-2008) quê ở Nghệ An, ông là nhà thơ của tình người, của những yêu thương rất đỗi đời thường. Bài thơ “Thăm thầy giáo cũ” được sáng tác năm 1980, nhân một lần nhà thơ về thăm thầy giáo cũ của mình.

Đề 3: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích đoạn thơ sau (trích trong “Bài thơ quê hương” – Nguyễn Bính):

Quê hương tôi có những người con gái

“Một ngày hai bữa cơm đèn…”

Cách sông cái cũng bắc cầu dải yếm,

Cho chàng sang định ước chuyện nhân duyên.

Trong bụng mẹ đã từng mê tiếng hát,

Nên quê tôi ai cũng biết làm thơ.

Những trẻ nhỏ nằm nôi hay đặt võng,

Sớm hay chiều, đều mượn cánh cò đưa. 

 

Khi có giặc những tre làng khắp nước,

Đều xả thân làm ngọn mác, mũi chông,

Những trai gái thôn Đông, xóm Bắc

Thoắt vươn vai thành những anh hùng…

[…]

(Nguyễn Bính – thơ và đời, Hoàng Xuân, NXB Văn học, 2003)

Chú thích: Nguyễn Bính (tên thật là Nguyễn Trọng Bính, 1918 – 1966) quê xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hoà), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng của Việt Nam, là nhà thơ của làng quê Việt Nam với những bài thơ mang sắc thái dân dã, mộc mạc.

Đề 4: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích bài thơ “Bát nước lạnh” (Nguyễn Minh Khiêm).

Trong di sản mẹ tôi để lại

có một lời dặn

hãy uống một bát nước lạnh trước khi cáu gắt

chỉ có thế

nhiều u trếu trong tôi đã biến mất trước khi thành gai nhọn

những con nhím thập thò trong niềm kiêu hãnh của tôi không có dịp xù lông

nhiều quả ớt trong máu tôi không còn cay xé lưỡi

 

Cảm ơn bát nước lạnh mẹ để lại cho con

làm dịu đi tiếng đập va loảng xoảng

không còn vô cớ những dây đàn bị đứt

những chiếc gương bị vỡ bất thình lình

 

Phải đối mặt bao nhiêu cơn địa chấn

trên con đường đi tới giấc mơ

nếu không có một lời mẹ dặn

những chiếc bình pha lê

con làm sao có được bây giờ.

(Bát nước lạnh, Chùm thơ của tác giả Nguyễn Minh Khiêm, Báo Văn nghệ quân đội, 2021)

Đề 5: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích đoạn trích sau (trích “Chinh phụ ngâm” – Đặng Trần Côn):

Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai

Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây

Trong cửa này đã đành phận thiếp

Ngoài mây kia há kiếp chàng vay?

Những mong cả nước vui vầy,

 

Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời

Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ,

Chàng há từng học lũ vương tôn.

Cớ sao cách trở nước non

Khiến người thôi sớm thôi hôm những sầu?

(Trích Chinh phụ ngâm, nguyên tác của Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn Thị Điểm)

Đề 6: Phân tích dòng cảm xúc của nhân vật trữ tình trong văn bản “Qua sông Thương” bằng một đoạn văn ngắn.

Sao tên sông lại là Thương

Để cho lòng anh nhớ?

Người xưa bảo đây đôi dòng lệ nhỏ

Những suối buồn gửi tới mênh mang

Đò về Nhã Nam

Đò qua Phủ Lạng

Mưa chiều nắng rạng

Đã bao năm?

Nỗi đau cũ thật không cùng

Sông cũng thành nước mắt

Hôm nay anh lại qua sông

Đò anh đi giữa những đóa sen hồng

 

Ong chấp chới bay, đây đương mùa dứa

Đò ngược xuôi chở trái chín vàng

Thơm ngát mặt hương mùa hạ

Thôn xóm đôi bờ xanh biếc quá

 

Những đường xe chạy đỏ bụi bay

Những tiếng cười khúc khích sau vườn cây

Nước vỗ mạn thuyền dào dạt

Buồm trắng nắng căng phồng gió mát

Phủ Lạng Thương sừng sững thân cầu…

(Trích Qua sông Thương, Lưu Quang Vũ, in trong Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, NXB Hội Nhà văn, 2013, tr.18-19)

(Văn bản trích từ đề thi chính thức vào 10 năm học 2025 – 2026 Sở GD&ĐT Bắc Giang)

Đề 7: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình “ta” trong bài thơ “Ở giữa cây và nền trời” (Thi Hoàng).

Dường như là chưa có buổi chiều nào

Xanh như buổi chiều nay, xanh ngút mắt

Cây cứ đứng với nền trời khao khát

Nâng chiếc mầm trên tận đỉnh cây cao 

 

Sau chiều nay ta phải thốt lên nhiều

Thiên nhiên ở với mình cao cả quá

Tiếng lá động ân cần như tiếng mẹ

Và vòm trời mong ngóng lại như cha 

 

Đừng phút giây quên đối mặt quân thù

Đừng hờ hững với đời như bọt bể

Sắc diệp lục um tùm đang nói thế

 

Sắc trời xanh day dứt chẳng vô tình

 

Trời thì xanh như rút ruột mà xanh

Cây thì biếc như vặn mình mà biếc

Mặt trời toả như trái tim nồng nhiệt

Trong cái chiều nhân nghĩa đến sâu xa.

 

Một tên Người ai gọi cứ ngân nga…

(Ở giữa cây và nền trời, Thi Hoàng, in trong Những mảnh ghép của huyền thoại, NXB Văn học, 2024)

Đề 8: Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích hình ảnh em bé trong bài thơ “Em bé trong mùa củi khô” (Bình Nguyên Trang).

Này em bé thả chân trần trên cỏ

Rong ruổi suốt ngày nhặt giấc mơ rơi

Ngôi nhà em đầy mùi hương và khói

Em kiếm củi gần sưởi ấm chiều mồ côi 

 

Dải đồi ấy chỉ nhiều hoa và gió

Làm sao có củi khô cho em nhặt bây giờ

Chiều lạnh lắm thu đã vàng rồi đó

Em về đi, mẹ sắp trở cơn ho 

 

Này em bé, căn nhà xơ xác thế

Làm sao cõng nắng mưa để qua mùa

Heo hút quá cho ta vào nữa nhé

Ta nhóm lửa giùm em đánh thức niềm vui

Những bó củi mỗi ngày mang về chợ

Em ủ ước mơ nhặt khắp nẻo trên đồi

Đường đầy gió, heo may gài băng giá

Chân chạy qua mùa đối diện ngày đông 

 

Rồi ta thấy má em hồng mỗi buổi

Khi nhóm củi khô cho mẹ sưởi ấm lòng

Cái bóng nhỏ ngã trên đồi lộng gió

Biết có còn củi khô cho em không… 

(Em bé trong mùa củi khô, Bình Nguyên Trang, trích Lối về, NXB Hội Nhà văn, 1995)

Đề 9: Bằng 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ), em hãy phân tích đặc sắc kết cấu của bài thơ “Ngày ấy, xuân về” (Hồ Dzếnh).

Khẩu súng trên vai vừa mới khoác

Tai bèo vành mũ gió rung rinh

Em vào tự vệ bao giờ thế?

Mà dáng còn tươi nét nữ sinh?

 

Thênh thang xa lộ dài hun hút

Pháo lớn, tăng ca chiếm trọn đường

Thành phố rạng đông hửng trước mặt

Hãy còn lóng lánh triệu kim cương

 

Xin mời em bước lên xe pháo

Tay chỉ giùm nhau những nẻo đường,

Em biết nơi nào hang rắn độc

Nơi nào sào huyệt lũ xâm lăng.

 

Quên hỏi tên em, hỏi phố em

Dạ Trương Minh Giảng, Nguyễn Trung Kiên

Nhìn em pháo thủ cười tươi tắn:

Tên ngỡ con trai hoá gái hiền!

 

Tất cả dường như có phép thần

Trăm năm khát vọng một ngày xuân!

Chao ôi bông điệp xôn xao quá

Và cánh hoa mai nở trắng ngần. 

 

Giải phóng đã qua hai độ Tết

Thơ mừng Thống nhất chẵn hai năm

Em vào bộ đội bao giờ thế

Mà dáng còn nguyên nét trẻ măng? 

Xuân 1977

(Ngày ấy, xuân về, Hồ Dzếnh, trích Tuyển tập thơ Việt Nam 1975 – 2000 (tập 1), NXB Hội Nhà văn, 2001, tr.143)

Chú thích: Hai năm sau đại thắng mùa xuân lịch sử (30-4-1975), cảm kích trước hình ảnh một cô gái trẻ ở Thành phố Hồ Chí Minh đội mũ tai bèo chỉ đường cho bộ đội ta thẳng tiến đến dinh Độc Lập, Hồ Dzếnh viết bài thơ “Ngày ấy, xuân về”. 

Hồ Dzếnh (1919 – 1991) là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ngay từ buổi đầu thành lập (1957). Ông được truy tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.

Đề 10: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) cảm nhận về hình ảnh mặt trời trong bài thơ “Mặt trời” của Trương Anh Tú.

Mặt trời đỏ như quả gấc

Như xôi mẹ nấu những ngày

Như chiếc lá bàng em nhặt

Tuổi thơ xếp tận trời xanh.

 

Mặt trời đỏ như hoa gạo

Đợi ai thắp lửa bên trời

Bao nhiêu mặt trời – hoa gạo

Đọng trong những giọt sương rơi.

 

Mặt trời chạy cùng mây trắng

Cùng sông, cùng suối… không rời

Mặt trời mọc lên từ biển

Đêm về lại hóa biển khơi.

(Mặt trời, Trương Anh Tú, trích Trắng mây tóc mẹ, NXB Kim Đồng, 2024, tr.6)

(Văn bản trích từ đề thi chính thức vào 10 năm học 2025 – 2026 Sở GD&ĐT Khánh Hòa)

 

>>> Xem thêm: Cách viết đoạn văn nghị luận văn học về thơ thi vào 10

Hy vọng các đề văn nghị luận thi vào 10 bám sát cấu trúc đề thi thực tế ở trên đã giúp các em ôn tập, hệ thống lại kiến thức và rèn luyện kỹ năng làm bài một cách nhuần nhuyễn nhất.

Các đề văn nghị luận thi vào 10 ở trên đều được trích từ cuốn sách Tăng Tốc 9+ Ôn Thi Vào Lớp 10 Môn Ngữ Văn” (Phần: Nghị luận xã hội – Nghị luận văn học) do TKbooks phát hành. Không chỉ dừng lại ở kho đề phong phú, cuốn sách còn đi kèm hệ thống bài văn mẫu tham khảo chuyên sâu cho từng đề cùng hàng loạt đề văn nghị luận tham khảo khác để các em luyện tập tại nhà.

Link đọc thử sách: https://drive.google.com/file/d/1NH2cnj_R92Bvgksg_dasFG4hSv9xcfxz/view?usp=sharing

Tkbooks tự hào là nhà xuất bản sách tham khảo lớp 9 hàng đầu tại Việt Nam!

Tkbooks.vn

Share

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *