Cách viết đoạn văn nghị luận văn học về truyện thi vào 10

Cách viết đoạn văn nghị luận văn học về truyện thi vào 10

Cách viết đoạn văn nghị luận văn học về truyện thi vào 10 đòi hỏi học sinh không chỉ nắm chắc nội dung tác phẩm mà còn phải làm chủ được cấu trúc đoạn văn theo từng dạng đề cụ thể.

Bài viết này sẽ cung cấp cho các em cẩm nang toàn diện từ dàn ý chi tiết, gợi ý diễn đạt linh hoạt cho đến các đoạn văn nghị luận văn học về truyện thi vào 10 mẫu thực chiến, giúp các em tự tin chinh phục mọi dạng bài nghị luận về truyện trong đề thi sắp tới.

Mời các em tham khảo!

>>> Xem thêm: Cách viết đoạn văn nghị luận văn học về thơ thi vào 10

Dạng 1: Cách viết đoạn văn nghị luận phân tích nội dung chủ đề của một văn bản truyện

PhầnDàn ýGợi ý diễn đạt
Mở đoạnViết bằng 1 – 2 câu ngắn gọn, nêu được:

– Tên văn bản

– Tên tác giả

– Từ khoá của vấn đề nghị luận: chủ đề/ nội dung chủ đề

Cách 1: Trong văn bản A, tác giả B đã thành công thể hiện một chủ đề [sâu sắc/ ý nghĩa/ gần gũi/ ấn tượng…].

Cách 2: Tác phẩm/ Đoạn trích A của tác giả B đã khiến bạn đọc [ấn tượng/ bồi hồi/ xúc động…] bởi chủ đề [nêu chủ đề].

Cách 3: Mỗi truyện ngắn là một lát cắt của cuộc sống, nơi người đọc bắt gặp những tình huống, nhân vật và cảm xúc quen thuộc nhưng chất chứa nhiều ý nghĩa. Tác phẩm A của tác giả B là một lát cắt như thế, bởi khi cảm nhận từng trang văn, ta thấy được [chủ đề].

Thân đoạnÝ 1: Nêu chủ đề của văn bản

Văn bản thể hiện thái độ gì? Đối với đối tượng nào?

Cách 1: Chủ đề của văn bản là [từ chỉ thái độ của tác giả] về [đặc điểm chủ yếu] của [đối tượng chính được nêu trong văn bản].

Cách 2: Văn bản thể hiện chủ đề [từ chỉ thái độ của tác giả] về [từ chỉ đặc điểm chủ yếu] của [đối tượng chính được nêu trong văn bản].

Ý 2: Phân tích yếu tố 1 thể hiện chủ đề (thường là nhan đề)

– Nêu nhan đề

– Chỉ ra ý nghĩa của nhan đề trong việc thể hiện chủ đề của văn bản.

Đầu tiên, nhan đề của câu chuyện – [trích nhan đề] – đã [khẳng định/ gợi nhắc] về [ý nghĩa của nhan đề], giúp bạn đọc bắt đầu hình dung về một chủ đề [gần gũi/ sâu sắc].
Ý 3: Phân tích yếu tố 2 thể hiện chủ đề (thường là cốt truyện/ tình huống/ chi tiết)

Tóm tắt cốt truyện chính và phân tích chi tiết nổi bật.

Câu chuyện kể về [nội dung chính]. Truyện có tình huống [nêu tình huống] với những chi tiết nổi bật như [nêu một số chi tiết nổi bật trong truyện].
Ý 4: Phân tích yếu tố 3 thể hiện chủ đề (thường là nhân vật)

– Chỉ ra những chi tiết liên quan đến nhân vật.

– Phân tích làm rõ những đặc điểm trong tính cách của nhân vật.

Lưu ý: Chỉ cần phân tích nhân vật chính.

Chủ đề của truyện được thể hiện rõ nhất qua hình tượng nhân vật [nêu nhân vật cần phân tích]. Đó là một [người mẹ/ người cha/ người bà/ người thầy…] [đặc điểm chính về nhân vật]. [Nêu bằng chứng]. Những nét khắc hoạ đó cho ta thấy [đặc điểm của nhân vật rút ra từ các bằng chứng] của [nhân vật]… [Tương tự phân tích các nhân vật khác nếu có].
Ý 5: Phân tích yếu tố 4 thể hiện chủ đề (thường là những nét nghệ thuật)

– Liệt kê những yếu tố nghệ thuật đặc sắc.

– Khái quát tác dụng của những yếu tố nghệ thuật trong việc thể hiện chủ đề.

Bên cạnh đó, những nét nghệ thuật đặc sắc cũng góp phần đưa chủ đề của [tác phẩm A] nhẹ nhàng đến với bạn đọc: [liệt kê các yếu tố nghệ thuật].
Lưu ý:

– Câu nêu chủ đề (ý 1) có vị trí linh hoạt: có thể nêu ở mở đoạn hoặc đầu thân đoạn trước khi phân tích hoặc cuối thân đoạn sau khi phân tích.

– Các ý 2, 3, 4, 5 là 4 phương diện cơ bản để thể hiện chủ đề của 1 văn bản truyện. Ở từng văn bản cụ thể, em nên chọn lọc những phương diện nổi bật nhất để phân tích. Thứ tự viết các ý cũng có thể linh hoạt, không bắt buộc phải theo thứ tự như trên.

Ý cuối: Đánh giá về chủ đề

– Chủ đề tạo giá trị nội dung cho tác phẩm như thế nào?

– Chủ đề thể hiện tình cảm, tư tưởng, tài năng gì của tác giả?

– Chủ đề tác động gì tới bạn đọc?

Có thể thấy, chủ đề [nêu chủ đề] thật gần gũi mà ý nghĩa, đã đem đến giá trị nội dung cho tác phẩm, góp phần thể hiện [tình cảm, tư tưởng] của tác giả A. Chủ đề ấy cũng nhắc nhở mỗi chúng ta về [thông điệp tác động tới bạn đọc].

Kết đoạn

Viết bằng 1 – 2 câu ngắn gọn:

– Khẳng định lại chủ đề của truyện.

– Liên hệ, mở rộng hoặc nêu ấn tượng cá nhân.

Hoặc kết lại tại ý cuối của thân đoạn.

Cách 1: Gấp lại trang truyện tác phẩm A, trong tôi vẫn thổn thức những suy nghĩ về [cảm nhận cá nhân liên quan đến chủ đề đã phân tích].

 

Cách 2: Tác phẩm A chính là một sản phẩm nghệ thuật đích thực, bởi thông qua [chủ đề] nó không chỉ khép lại bằng câu chữ, mà còn mở ra những dư ba sâu lắng trong lòng người đọc. Đúng như Aitmatov từng khẳng định: “Tác phẩm nghệ thuật chân chính không kết thúc ở trang cuối cùng, không bao giờ hết khả năng kể chuyện…”

Ví dụ dạng 1: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nội dung chủ đề của truyện “Bà cho” (Vũ Tú Nam).

BÀ CHO

Không nhớ tôi được gặp bà tôi lần đầu tiên vào bao giờ, chỉ biết lớn lên là tôi đã có bà tôi rồi. Bà đây là bà nội sinh ra bố tôi, chứ bà ngoại thì đã mất từ hồi mẹ tôi còn bé.

Bà nội ở với bác Mai tôi. Bà tôi bận lắm, cặm cụi công việc suốt ngày. Nhưng chả lần nào đi chợ mà bà không tạt vào thăm hai anh em tôi, cho chúng tôi khi thì tấm bánh đa, quả thị, khi thì củ sắn luộc hoặc mớ táo. Ăn quà của bà rất thích, nhưng ngồi vào lòng bà nghe bà kể chuyện còn thích hơn nhiều. Bà tôi đến tận bây giờ vẫn chưa biết chữ đâu, các bạn ạ. Thế mà bà kể chuyện Tấm Cám, chuyện Thạch Sanh, so với sách chả sai tí nào. Anh tôi hỏi bà: “Bà ơi, hồi bé sao bà không chịu đi học?” Bà cười, xoa đầu anh tôi: “Đã có bác mày, bố mày học hộ cho bà rồi”. 

Ông nội tôi mất sớm. Một mình bà nuôi hai con trai là bác tôi và bố tôi. Lớn lên, hai người đều đi bộ đội cả. Bác Mai tôi hiền và ít nói lắm. Thế nhưng bác đã nói với các cháu một điều “bí mật”: tên bà nội là Mơ, Trần Thị Mơ. Thế mà ngày trước tôi tưởng tên bà là Bà!

Từ ngày biết tên thật của bà nội, chúng tôi càng quý bà hơn, chắc chắn ngày xưa bà cũng bé như chúng tôi. Người ta gọi bà là “chị Mơ, cô Mơ”… Có điều bà không được đi học, mà phải đi ở, chăn trâu cắt cỏ khó nhọc lắm. Sau khi ông nội mất, làng bị Pháp chiếm, bà tôi chạy tản cư, tay dắt bác Mai tôi khi ấy mới lên bảy, vai bà gánh một gánh quần áo rách và đồ đạc, nồi niêu, có cả bố tôi mới biết đi ngồi thu lu trong cái thúng. Chuyện này mỗi lần kể lại, bố tôi vừa cười vừa rơm rớm nước mắt thương bà.

Thế rồi bà có được nghỉ đâu. Ngày Mỹ ném bom, bà lại phải đưa chúng tôi đi sơ tán, xa tít tắp ở mãi gần chùa Mộc. Những đêm B.52, chả đêm nào bà ngủ.

Gần đây thì bà đỡ vất vả rồi, nhưng bà không được khỏe như xưa nữa. Đã hai năm nay, bà đau chân chỉ quanh quẩn ở nhà. Bà không đi chợ được, cũng không đến chơi với các cháu được. Thế nhưng lần nào chúng tôi đến thăm bà, bà cũng có quà cho chúng tôi: khi thì mấy củ dong riềng, khi thì cây mía, quả na, hoặc mấy khúc sắn dây, toàn những thứ tự tay bà trồng ra.

Cách đây bốn tháng, bà tôi bị ngã nằm liệt giường. Bác tôi phải bón cơm, bón cháo cho bà như bón cho em bé. Mẹ tôi dẫn chúng tôi đến thăm bà luôn. Lần nào thấy chúng tôi bà cũng tủm tỉm cười – bà ốm, mà tôi không thấy bà kêu rên bao giờ.

Nhúc nhắc được là bà tôi gượng dậy, lết xuống đất, ngồi xổm nhích từng bước một quét nhà, quét sân.

Chiều qua, đi học về, tôi chạy đến thăm và, đưa biếu bà chiếc bánh giò mà dì Thuận tôi mới mua cho tôi ban trưa. Bà ngồi dậy, cười cười, rồi tay bà run run, bà mở cái nải của bà, đưa cho tôi một gói quà đặc biệt: ô mai sấu! 

Bà ơi bà! Ô mai sấu bà cho, cháu sẽ chia cho bố cháu, mẹ cháu và anh cháu… Cháu biết rồi, bà ơi… Cứ sáng sớm, sau mỗi đêm mưa gió to, bà lại lằn ra sân, bà nhặt những quả sấu rụng ở quanh gốc cây sấu bà trồng từ thời con gái. Rồi bà rửa, bà ngâm muối, bà phơi. Bà gói thành từng gói nhỏ, bà đợi các cháu đến, bà cho… 

Bà ơi, sấu bà muối hơi mặn một tí, nhưng ngon lắm bà ạ! Cháu ăn sấu bà cho, cháu cứ ứa nước mắt ra. Không phải tại sấu chua đâu, mà tại vì cháu yêu bà lắm! Sau này lớn lên, cháu biết lấy gì đền đáp lại tấm lòng thương cháu của bà? 

(Những truyện hay viết cho thiếu nhi, Vũ Tú Nam, NXB Kim Đồng, 2023, tr244-246) 

Bài làm

[Mở đoạn] Trong tác phẩm “Bà cho”, tác giả Vũ Tú Nam đã thành công thể hiện một chủ đề thật gần gũi, thân thuộc mà vô cùng ý nghĩa đối với mỗi chúng ta. [Thân đoạn – nêu chủ đề] Đó là chủ đề ca ngợi vẻ đẹp, ý nghĩa của tình bà cháu. [Phân tích nhan đề] Ngay từ nhan đề của truyện, tác giả đã phần nào hé mở về chủ đề này. Nhan đề “Bà cho” đã nhấn mạnh vào hành động quen thuộc, đầy yêu thương của bà dành cho các cháu. [Phân tích cốt truyện, chi tiết] Cảm nhận từng dòng văn, bạn đọc đến với câu chuyện về những thói quen của bà nội dưới góc nhìn của nhân vật “tôi”. Truyện không có tình huống cao trào, gay cấn mà nhẹ nhàng, dung dị, thân thuộc như chính cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt, chi tiết “cứ sáng sớm, sau mỗi đêm mưa gió to, bà lại lằn ra sân, bà nhặt những quả sấu rụng […] Rồi bà rửa, bà ngâm muối, bà phơi. Bà gói thành từng gói nhỏ, bà đợi các cháu đến, bà cho…” khiến chúng ta không khỏi xúc động trước tình yêu thương vô bờ mà bà vẫn dành cho con cháu. [Phân tích nhân vật] Truyện đã tô đậm vẻ đẹp của các nhân vật để từ đó làm nổi bật một chủ đề dung dị và ý nghĩa. Đó là nhân vật người bà tảo tần, tuy vất vả, “một mình nuôi hai con trai”, “không được đi học”, “phải đi ở, chăn trâu cắt cỏ nhọc lắm” nhưng bà vẫn luôn hi sinh vì con vì cháu, một mình cáng đáng gia đình trong những năm chiến tranh gian khổ. Đến khi hoà bình, dù tuổi cao nhưng bà vẫn tỉ mỉ, ân cần, chăm sóc, dành cho các cháu những món quà, tấm bánh giản đơn mà ấm áp vô cùng như “tấm bánh đa”, “quả thị”, “củ sắn luộc”, “mớ táo” hay ô mai sấu. Đó là nhân vật “tôi” – một đứa cháu luôn hiếu thảo, gắn bó với bà, trân trọng từng món quà bà cho, “ứa nước mắt” thương bà cặm cụi, luôn tự nhủ: “Sau này lớn lên, cháu biết lấy gì đền đáp lại tấm lòng thương cháu của bà?…” [Phân tích thông điệp] Là thế, tình cảm gia đình luôn bình dị mà thiêng liêng vô cùng. Hãy ghi nhớ, biết ơn tình yêu thương của ông bà, cha mẹ là thông điệp mà tác giả Vũ Tú Nam muốn truyền tải, làm sáng lên chủ đề của truyện. [Khái quát đặc sắc nghệ thuật] Việc sử dụng ngôi kể thứ nhất kết hợp với giọng kể tâm tình, thủ thỉ của tác giả cũng khiến chủ đề của truyện khắc sâu trong trái tim bạn đọc. [Đánh giá + kết đoạn] Qua đó, chủ đề vẻ đẹp của tình bà cháu đã đem đến sự xúc động, ý nghĩa cho câu chuyện “Bà cho”, góp phần thể hiện sự trân trọng của tác giả đối với tình cảm gia đình cùng tài năng viết truyện cho thiếu nhi của tác giả Vũ Tú Nam. Từ chủ đề của truyện, mỗi chúng ta càng thêm thương yêu, muốn quan tâm, chăm sóc nhiều hơn những người thân trong gia đình, đặc biệt là đối với ông bà – thế hệ đi trước đáng kính của chúng ta.

Dạng 2: Viết đoạn văn nghị luận phân tích nhân vật hoặc một phương diện của nhân vật trong văn bản truyện

PhầnDàn ýGợi ý diễn đạt
Mở đoạnViết bằng 1 – 2 câu ngắn gọn, nêu được:

– Tên văn bản

– Tên tác giả

– Từ khoá của vấn đề nghị luận: nhân vật A/ phương diện B của nhân vật A

Cách 1: Trong văn bản A, tác giả B đã thành công thể hiện hình tượng nhân vật C – [đặc điểm chính của nhân vật].

Cách 2: Tác phẩm/ Đoạn trích A của tác giả B đã khiến bạn đọc [ấn tượng/ bồi hồi/ xúc động…] bởi hình tượng nhân vật C – [đặc điểm chính của nhân vật].

Cách 3: Tô Hoài từng nhận định: “Nhân vật là nơi tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác”. Thật vậy, trong tác phẩm A của tác giả B, hình tượng nhân vật C cũng chính là nơi “tập trung hết thảy” bao ý nghĩa nhân văn, sâu sắc, để lại ấn tượng khó phai trong lòng bạn đọc.

Thân đoạn (phần 1)Ý 1: Khái quát về nhân vật

– Hoàn cảnh xuất hiện

– Ấn tượng chính…

Lưu ý: Ý này có vị trí linh hoạt, có thể dùng trong mở đoạn.

Xuất hiện trong hoàn cảnh/ với vai trò là [nêu hoàn cảnh của nhân vật], nhân vật A đã khiến bạn đọc không khỏi thích thú/ tò mò/ quan tâm…
Để xác định được các đặc điểm của nhân vật, em hãy thực hiện các bước sau:

Bước 1: Đọc toàn bộ văn bản, xác định những chi tiết liên quan đến xuất thân, ngoại hình, hành động, lời nói, suy nghĩ… của nhân vật.

Bước 2: Nhóm các chi tiết cùng thể hiện 1 đặc điểm tính cách của nhân vật vào cùng 1 nhóm, từ đó xác định được các đặc điểm chính cần phân tích.

Lưu ý: Các đặc điểm cần chú ý khi phân tích nhân vật:

– Đặc điểm về số phận

– Đặc điểm về tính cách/ phẩm chất

⇒ Không phải nhân vật nào cũng được khắc hoạ đầy đủ ở tất cả các phương diện, đặc điểm. Vì vậy điều quan trọng nhất là em cần chỉ ra được nhân vật là người như thế nào thông qua quá trình phân tích của mình.

Thân đoạn (phần 2)Ý 1: Phân tích đặc điểm 1 của nhân vật

– Chỉ ra các chi tiết trong truyện liên quan đến đặc điểm 1.

– Phân tích để rút ra đặc điểm 1 của nhân vật.

Trước tiên, nhân vật A là một người [nêu đặc điểm 1]. Điều đó được thể hiện qua các chi tiết [nêu các chi tiết liên quan].
Ý 2: Phân tích đặc điểm 2 của nhân vật

– Chỉ ra các chi tiết trong truyện liên quan đến đặc điểm 2.

– Phân tích để rút ra đặc điểm 2 của nhân vật.

(Tiếp tục phân tích từng đặc điểm tiếp theo của nhân vật)

Không những thế, A còn là một người [nêu đặc điểm 2]. Ta ấn tượng trước cách mà nhân vật A đã [nêu các chi tiết liên quan]. Nếu không phải một người [khái quát đặc điểm 2] thì nhân vật A đã không có những hành động/ lời nói/ cách cư xử… như vậy.

Diễn đạt tương tự các ý trên.

Để xác định được những giai đoạn chuyển biến trong tâm trạng của nhân vật, em hãy thực hiện các bước sau:

Bước 1: Đọc lần lượt từ đầu đến cuối văn bản, xác định những điểm mốc mà tại đó nhân vật có sự thay đổi trong tình cảm, suy nghĩ.

Bước 2: Chọn sự kiện nổi bật gắn với sự thay đổi của nhân vật để làm cơ sở gọi tên các giai đoạn cần phân tích:

+ Nhân vật A trước khi sự kiện B diễn ra

+ Nhân vật A sau khi sự kiện B diễn ra.

Lưu ý: Ở mỗi giai đoạn, em đều cần chỉ ra được nhân vật là người như thế nào.

Thân đoạn (phần 2 – tiếp)Ý 1: Phân tích nhân vật A trong giai đoạn 1Dõi theo từng diễn biến của truyện, ta bắt gặp hình ảnh nhân vật A khi [nêu giai đoạn 1]. Nhân vật A đã [nêu những chi tiết liên quan đến nhân vật]. Qua đó, ta thấy A là người [đặc điểm rút ra].
Ý 2: Phân tích nhân vật A trong giai đoạn 2

(Tiếp tục phân tích từng giai đoạn tiếp theo cho đến hết)

Câu chuyện ngày một cuốn hút hơn khi nhân vật A [nêu giai đoạn 2]. Hình tượng một con người [đặc điểm rút ra] đã được khắc hoạ cụ thể qua các chi tiết [nêu các chi tiết liên quan].

Diễn đạt tương tự các ý trên.

Thân đoạn (phần 3)Ý cuối: Đánh giá về nhân vật

– Khái quát nghệ thuật xây dựng nhân vật.

– Nhân vật góp phần bộc lộ chủ đề gì của tác phẩm/ đoạn trích?

– Nhân vật giúp thể hiện tư tưởng, thông điệp gì của tác giả?

– Nhân vật tác động tới bạn đọc như thế nào?

Hình tượng nhân vật A được xây dựng thông qua [các phương diện: ngoại hình, lời nói, hành động…] không chỉ góp phần làm nổi bật chủ đề [nêu chủ đề của văn bản] mà còn gửi gắm thông điệp nhân văn sâu sắc: [nêu thông điệp]. Bạn đọc sẽ nhớ mãi một nhân vật A với [đặc điểm chính].
Kết đoạnViết bằng 1 – 2 câu ngắn gọn:

– Khẳng định lại về nhân vật.

– Liên hệ, mở rộng hoặc nêu ấn tượng cá nhân.

Hoặc kết lại tại ý cuối của thân đoạn.

Cách 1: Gấp lại trang truyện A, trong tôi vẫn thổn thức những suy nghĩ về [cảm nhận cá nhân liên quan đến nhân vật].

Cách 2: Những gì nhân vật C trải qua trong tác phẩm A không chỉ là hành trình cá nhân, mà còn là tấm gương phản chiếu chính cuộc sống hôm nay. Đọc truyện, ta thầm tự nhủ/ băn khoăn tự hỏi: [thông điệp, câu hỏi về cuộc sống liên quan đến văn bản]?

Ví dụ dạng 2: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích tình cảm của Minh đối với ông ngoại trong truyện “Ông nội và ông ngoại” (Xuân Quỳnh).

ÔNG NỘI VÀ ÔNG NGOẠI

(Lược một đoạn: Minh sống với bố mẹ và ông nội ở Hà Nội. Minh rất gần gũi và yêu ông nội, không hề biết gì về ông ngoại vì ông ngoại đi từ ngày mẹ Minh còn rất bé. Ông vào Nam làm ăn, rồi đất nước chia cắt, ông ngoại không về nữa. Bao nhiêu năm bặt tin, mãi tới khi Sài Gòn giải phóng, có người từ Nam ra, cầm thư của ông ngoại đến cho mẹ, mẹ mới biết là ông còn ở Sài Gòn. Hai mẹ con Minh sửa soạn lên đường vào Sài Gòn gặp ông ngoại. Vào đến nơi, Minh thấy ông đã già yếu và sống rất nghèo khổ. Ông rất yêu thương Minh nhưng Minh vẫn thấy xa cách với ông.) 

Lại nói đến cái món đồ chơi của ông ngoại cho nữa chứ! Đó là cái xe gíp bằng sắt, có hai súng máy lắp đá lửa ở trên xe, khi vặn khoá rồi thả cho xe chạy thì khẩu súng bắn ra những tia lửa nhỏ xíu. Minh cũng thích chiếc xe này đấy, nhưng giả thử nó mới thì thích hơn nhiều. Đằng này xe lại quá cũ rồi, lắm chỗ đã bong lớp mạ trắng và bắt đầu gỉ. 

Này, con đừng có nói thế, ông không yêu con sao ông toàn nhường thịt, cá cho con thôi.

Ông chả bảo với mẹ là ông thích ăn cá. Với lại ông bảo thích ăn đầu cá vì bao nhiêu mắm muối nó ngấm cả vào đó là gì. 

Con chả hiểu gì về ông cả. 

(Lược một đoạn: Thấy mẹ mắng và mắt mẹ đỏ hoe, Minh dần hiểu và không dám gây chuyện nữa.) 

Ban đêm ông bảo Minh nằm với ông cho vui. Giường ông rộng, nhưng miếng đệm mút lại hẹp và mỏng chỉ trải vừa một người nằm. Ông gối bọc quần áo rách. Chăn màn ông vàng khè và hôi hám. Ông để Minh nằm lên miếng đệm, còn ông nằm ra ngoài chiếu, sát trong tường. 

Sao ông không nằm nệm? – Minh rụt rè hỏi. 

À, vì ông thích nằm chiếu cho mát. Khí hậu trong này nóng bức lắm. Cháu ngủ đi. 

Ông nói vậy rồi hai ông cháu im lặng. Hình như ông cũng không ngủ được… 

Đã sắp hết một tháng kể từ ngày mẹ con Minh vào thăm ông ngoại. Mẹ bảo sắp hết phép, phải về. Minh cũng thấy nhớ nhớ ông ngoại. 

Ông ngoại tiễn mẹ con Minh ra bến xe. Trước khi mẹ con Minh lên xe, ông rút cái bút máy trong túi áo ra đưa cho Minh và nói: 

Ông chỉ còn cái bút này quý nhất ông cho cháu, cháu giữ lấy để viết thư cho ông. Ông già rồi, chả biết chết lúc nào, dùng cái bút này nó phí đi! 

Đó là cái bút Pi-lốt nắp mạ vàng, bút đã cũ lắm rồi, màu nắp đã bạc và xây sát cả. 

Cái xe gíp ông cho cháu ấy, ông cũng đã để dành từ lâu rồi, từ khi nghe tin mẹ cháu đẻ con trai, ông đã mua cái xe ấy, nhưng chả biết nhờ ai gửi cho cháu được, ông vẫn để chờ cháu đấy. 

Bây giờ Minh mới hiểu ra là tại sao cái xe gíp ấy nó lại cũ. Minh còn hiểu thêm là ông rất nghèo. Trước kia ông làm người giữ sách ở thư viện Sài Gòn, nhưng rồi sau, ông bị ho lao, ba năm trời nằm trong bệnh viện làm phúc, chả có ai chăm sóc. Bây giờ ông già yếu quá rồi, chỉ quanh quẩn bán dần đồ đạc trong nhà để sống tạm. Ông sống có một mình, bà trẻ của ông đã bỏ đi khi ông ốm đau… 

Khi xe sắp chạy, cả mẹ và ông đều rân rấn nước mắt. Mẹ bảo: 

Thôi, ông về, trời sắp mưa rồi kìa. Sang năm con lại cho cháu vào thăm ông. 

Nhưng ông ngoại vẫn đứng đó. Xe bắt đầu chuyển bánh, trời đổ cơn mưa. 

Minh thấy ông giương cái ô đen lên. Ông đứng lẫn giữa bao nhiêu người và xe cộ. Xe chạy xa dần, rồi quặt vào một góc phố. Minh chỉ còn thấy chiếc ô đen giơ lên cao rồi khuất hẳn. Minh quay sang nhìn mẹ. Mẹ im lặng, nước mắt giàn giụa. Minh cũng nghẹn ngào muốn khóc. Thương ông ngoại quá đi mất! Bây giờ ông lại về một mình với căn phòng hẹp, với chăn màn cũ, vá. Minh thấy thương cả cái ô đen vừa khuất sau góc phố…

Mẹ ơi, thế bây giờ ai nuôi ông? 

Bác con, bác con sắp chuyển công tác vào trong này để nuôi ông ngoại. 

Bao giờ con lớn con cũng nuôi ông ngoại. – Minh nói đến đây rồi rúc đầu vào lòng mẹ khóc thút thít.. 

(Những truyện hay viết cho thiếu nhi, Xuân Quỳnh, NXB Kim Đồng, 2023, tr.35-45)

Bài làm

[Mở đoạn] Trong truyện “Ông nội và ông ngoại” của Xuân Quỳnh, tình cảm của nhân vật Minh dành cho ông ngoại được khắc hoạ tinh tế qua quá trình biến đổi trong nhận thức và cảm xúc của một cậu bé còn non nớt nhưng giàu lòng yêu thương. [Thân đoạn – khái quát hoàn cảnh của nhân vật] Minh lần đầu tiên được sống cùng ông ngoại trong một tháng ngắn ngủi – khoảng thời gian tuy không dài nhưng đủ để đánh dấu sự trưởng thành trong suy nghĩ và tình cảm của cậu bé. [Phân tích diễn biến tình cảm] Ban đầu, Minh chưa có sự gắn bó với ông ngoại, bởi ông xuất hiện trong mắt cậu là một người xa lạ, sống trong cảnh nghèo khổ: căn phòng chật hẹp, chăn màn ố vàng, hôi hám, chiếc đệm mỏng chỉ vừa một người nằm. Những món quà ông dành cho Minh như chiếc xe gíp cũ kỹ cũng khiến cậu thoáng thất vọng, từ đó bộc lộ sự vô tâm, trẻ con và khoảng cách tình cảm giữa hai ông cháu. Tuy nhiên, theo thời gian, đặc biệt khi gần hết một tháng sống bên ông, Minh bắt đầu “nhớ nhớ” ông ngoại – một cảm xúc rất tự nhiên nhưng giàu ý nghĩa, cho thấy sợi dây gắn bó âm thầm đã hình thành. Cao trào của sự thay đổi ấy diễn ra trong giây phút chia tay, khi Minh dần nhận ra tình yêu thương sâu nặng mà ông dành cho mình: ông để dành chiếc xe gíp từ lúc nghe tin cháu chào đời, nhường cho Minh những miếng ngon nhất, nằm chiếu để cháu được nằm nệm, và trao lại chiếc bút máy quý giá nhất đời ông. Hiểu thêm về hoàn cảnh cô đơn, bệnh tật, nghèo khổ của ông, Minh không còn thấy xa cách mà trào dâng niềm thương cảm sâu sắc. Khi xe chuyển bánh, hình ảnh chiếc ô đen của ông khuất dần trong mưa đã khiến Minh nghẹn ngào muốn khóc, cậu lo lắng cho ông và hồn nhiên hứa rằng khi lớn lên sẽ nuôi ông ngoại. Qua đó, Minh hiện lên là một cậu bé giàu tình cảm, biết yêu thương và có ý thức trách nhiệm với người thân. [Đánh giá + Kết đoạn] Nhân vật Minh và những chuyển biến cảm xúc được kể lại qua ngôi thứ ba, ngôn ngữ truyện giản dị, nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế, gần gũi. Tình cảm của Minh dành cho ông ngoại không chỉ góp phần làm nổi bật chủ đề về vẻ đẹp thiêng liêng của tình cảm gia đình mà còn gửi gắm thông điệp nhân văn sâu sắc: mỗi người cần biết quan tâm, yêu thương và trân trọng ông bà, những người thân yêu bằng cả suy nghĩ và hành động chân thành, dù là nhỏ bé nhất.

Dạng 3: Cách viết đoạn văn nghị luận phân tích một chi tiết trong văn bản truyện

Để xem chi tiết hướng dẫn cách viết đoạn văn nghị luận phân tích một chi tiết trong văn bản truyện, các em hãy tham khảo cuốn sách Tăng Tốc 9+ Ôn Thi Vào Lớp 10 Môn Ngữ Văn (Phần: Nghị luận xã hội – Nghị luận văn học) từ trang 207 đến 209 nhé!

Dạng 4: Viết đoạn văn nghị luận phân tích đặc sắc nghệ thuật của một văn bản truyện

Để xem chi tiết hướng dẫn cách viết đoạn văn nghị luận phân tích một chi tiết trong văn bản truyện, các em hãy tham khảo cuốn sách Tăng Tốc 9+ Ôn Thi Vào Lớp 10 Môn Ngữ Văn (Phần: Nghị luận xã hội – Nghị luận văn học) từ trang 209 đến 212 nhé!

Hy vọng những hướng dẫn cách viết đoạn văn nghị luận văn học về truyện thi vào 10 ở trên đã giúp các em viết được những đoạn văn vừa đúng cấu trúc, vừa sâu sắc về nội dung và mượt mà trong diễn đạt.

Chúc các em ôn tập thật hiệu quả và đạt kết quả cao nhất trong kỳ thi sắp tới!

Để ôn thi toàn diện môn Ngữ Văn vào lớp 10, các em có thể tham khảo trọn bộ Tăng tốc 9+ ôn thi vào lớp 10 môn Ngữ Văn, gồm 2 cuốn: Đọc Hiểu và Nghị luận xã hội – Nghị luận văn học. Bộ sách được biên soạn theo hướng dễ học, dễ áp dụng, bám sát các dạng bài thường gặp trong đề thi, giúp học sinh tăng tốc ôn luyện hiệu quả trong giai đoạn nước rút.

Link đọc thử sách: https://drive.google.com/file/d/1QMwNWhc56cBA3OApP5valgFkADa2KMkL/view?usp=sharing

Tkbooks tự hào là nhà xuất bản sách tham khảo lớp 9 hàng đầu tại Việt Nam!

Tkbooks.vn

Share

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *