Soạn bài Tiếng Việt lớp 9 tác giả tác phẩm ngắn nhất

Soạn bài Tiếng Việt lớp 9 tác giả tác phẩm ngắn nhất

Soạn bài Tiếng Việt lớp 9 tác giả tác phẩm ngắn nhất dưới đây sẽ giúp các em học sinh nắm được những nét cơ bản về nhà thơ Lưu Quang Vũ và hoàn cảnh ra đời của bài thơ Tiếng Việt. Qua đó, người học cảm nhận được tình yêu tha thiết, niềm tự hào sâu sắc của tác giả đối với tiếng mẹ đẻ – linh hồn và bản sắc của dân tộc Việt Nam.

Mời các em tham khảo!

I. Giới thiệu chung về tác giả Lưu Quang Vũ và tác phẩm Tiếng Việt

1. Tác giả Lưu Quang Vũ

– Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) là nhà thơ, nhà viết kịch, nhà văn tài năng quê ở Đà Nẵng.

– Ông có đóng góp đặc biệt to lớn đối với ngành sân khấu của Việt Nam với hàng chục vở kịch có sức sống vượt thời gian.

– Thơ ông nhiều cảm xúc, bay bổng và giàu chất suy tưởng, mang theo cả những triết lí, khát vọng của ông.

Tác giả Lưu Quang Vũ
Tác giả Lưu Quang Vũ

2. Tác phẩm Tiếng Việt

– Bài thơ “Tiếng Việt” được in trong tập thơ “Mây trắng của đời tôi” (1989).

– Thể thơ: tám chữ

– Phương thức biểu đạt: Biểu cảm

– Chủ đề: Bài thơ nói về cảm xúc của tác giả trước vẻ đẹp, sự diệu kì của tiếng Việt trong suốt hành trình phát triển của lịch sử dân tộc.

– Bố cục:

+ Phần 1 (3 khổ thơ đầu): Tiếng Việt hình thành từ những âm thanh của cuộc sống bình dị.

+ Phần 2 (6 khổ thơ tiếp theo): Tiếng Việt góp phần hình thành văn hóa dân tộc.

+ Phần 3 (6 khổ cuối): Tình yêu, niềm tự hào của tác giả về tiếng Việt.

Ảnh minh họa cho bài thơ Tiếng Việt (trong SGK)
Ảnh minh họa cho bài thơ Tiếng Việt (trong SGK)

II. Soạn bài Tiếng Việt lớp 9 ngắn nhất

1. Đặc điểm của thơ tám chữ trong văn bản

– Mỗi dòng thơ có tám chữ (tám tiếng).

– Bài thơ có cách ngắt nhịp rất linh hoạt: khi thì 3/5; lúc thì 3/2/3; 2/2/2/2…

– “Tiếng Việt” được gieo vần chân. Cách gieo vần cũng khá linh hoạt: lúc thì vần liền, khi thì vần cách.

– Cảm xúc chủ đạo của bài thơ là tình yêu, niềm tự hào của tác giả về tiếng Việt gần gũi, thân thương mà cao quý vô ngần.

2. Đọc hiểu nội dung văn bản

2.1. Tiếng Việt hình thành từ những điều bình dị

– Tác giả không đưa ra một định nghĩa mang tính khoa học, hàn lâm về tiếng Việt mà dùng những hình ảnh gần gũi, bình dị của cuộc sống.

+ Đó là “tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm”, là tiếng gió thổi xào xạc “giữa cau tre”; là “tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng”; “tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa”; “tiếng mưa dội ào ào trên lá cỏ”; là tiếng ru của bà, của mẹ; là những câu ca dao, tục ngữ ngọt ngào dễ đọc dễ nhớ…

+ Đó là những âm thanh bình dị nhưng thấm đẫm nghĩa tình của cuộc sống hằng ngày. Những âm thanh ấy vô cùng tha thiết, trìu mến.

– Những hình ảnh tiếng mẹ, cánh cò, con nghé nhỏ lưng ướt đẫm bùn, tiếng mưa trên lá cỏ, tiếng hát ru,… gợi lên cuộc sống thanh bình, ấm áp và hạnh phúc. Nó cũng gợi cho người đọc nghĩ đến những bài ca dao, tục ngữ, những câu chuyện cổ mẹ thường hay kể. Chất liệu dân gian gợi lên sự gần gũi, thân thương như tâm hồn của chúng ta.

– Ngược lại:

Tiếng lụa xé đau lòng thời sợi trắng

Tiếng đập dồn nước lũ xoáy chân đê

Hai câu thơ lại gợi lên những âm thanh đầy nhức nhối, đau đớn và xót xa vì thiên tai, vì những biến thiên vô thường của lịch sử.

– Tiếng Việt trở thành một phần máu thịt của con người từ khi còn nằm trong nôi nghe tiếng ru của mẹ đến khi cất lên những tiếng nói đầu tiên của cuộc đời.

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói

Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ

– Tiếng Việt cũng là kết quả của quá trình lao động sáng tạo của con người. Đó là tài sản vô giá mà cha ông ta đã truyền từ cho con cháu từ đời này sang đời khác:

Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa

Óng tre ngà và mềm mại như tơ

+ Những hình ảnh lụa, đất bùn, tre ngà, tơ… rất quen thuộc và gần gũi, mang bản sắc văn hóa, thấm đẫm sự mộc mạc, chân thành, mềm mại nhưng cũng vô cùng cứng cỏi của người Việt.

→ Bằng việc sử dụng hàng loạt hình ảnh gần gũi, quen thuộc, Lưu Quang Vũ đã tái hiện vẻ đẹp bình dị và sức sống mạnh mẽ của tiếng Việt. Tiếng Việt được hình thành từ những điều giản dị, gần gũi, nên nó góp phần thể hiện bản sắc, tinh thần và tính cách con người Việt Nam nhân hậu, dịu dàng nhưng cũng vô cùng mạnh mẽ.

Vẻ đẹp của Tiếng Việt qua lời kể của nhà thơ Lưu Quang Vũ
Vẻ đẹp của Tiếng Việt qua lời kể của nhà thơ Lưu Quang Vũ

2.2. Vẻ đẹp và sức sống mãnh liệt của Tiếng Việt

a. Vẻ đẹp của tiếng Việt

– Âm điệu của Tiếng Việt đa dạng với hệ thống 6 thanh điệu, tạo nên những thanh âm trong trẻo, trầm bổng. Lưu Quang Vũ tự hào:

Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát

Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh

Như gió nước không thể nào nắm bắt

Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.

– Từ tượng thanh “ríu rít” cùng những âm thanh réo rắt của nước, gió được tạo nên bởi những “dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh”.

– Không chỉ nhắc đến những dấu ngã, dấu huyền, dấu hỏi, Lưu Quang Vũ còn dựng lên cả một chiều dài lịch sử với những cực nhọc, khó khăn trong hành trình dựng nước và giữ nước: “dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy”.

– Những thanh âm trong trẻo của tiếng Việt được tạo nên bằng mồ hôi, xương máu của bao thế hệ người Việt. Trong âm thanh “nói thường nghe như hát” ấy có cả tiếng dịu dàng của cuộc sống thanh bình và tiếng gào thét của các cuộc đấu tranh giữ nước của cha ông trong hàng ngàn năm lịch sử.

→ Tiếng Việt mang vẻ đẹp của cuộc sống. Những thanh âm trong trẻo của tiếng Việt chính là tâm hồn tươi mát, dịu dàng nhưng cũng vô cùng mạnh mẽ của con người Việt Nam.

b. Sức sống mạnh mẽ của tiếng Việt

– Tiếng Việt là phương tiện để kết nối con người trên mọi miền tổ quốc. Từ biển đảo xa xôi đến những vùng quê nghèo heo hút đều ngân vang những thanh âm thân thuộc mà thiêng liêng:

Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng

Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta

Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết

Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi

Như vị muối chung lòng biển mặn

Như dòng sông thương mến chảy muôn đời.

– Tiếng Việt là niềm tự hào, hành diện của con người Việt Nam. Bởi nó được hình thành và phát triển theo suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Từ thời đồ đá đến ngày nay, tiếng Việt vẫn không ngừng phát triển.

Ai thuở trước nói những lời thứ nhất

Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu

Tiếng Việt phản ánh được mọi mặt trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt: “Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay / Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt”. Hình ảnh so sánh độc đáo gợi lên vẻ đẹp và sức mạnh của tiếng Việt trong việc lưu giữ hồn thiêng dân tộc.

– Không chỉ là phương tiện kết nối con người, tiếng Việt còn đi vào những áng văn chương bất hủ, làm nên kiệt tác muôn đời:

Tiếng túi cực kẻ ăn cầu ngụ cư

Thành Nguyễn Du vàng vạc nổi thương đời

– Tiếng Việt giúp hàn gắn những rạn nứt, chữa lành những vết thương để người Việt yêu thương nhau hơn, xóa bỏ những hiểu lầm, những thù hằn để sống trong tình đoàn kết của con Lạc cháu Hồng:

Ai ở phía bên kia cầm súng khác

Cũng tôi trong tiếng Việt quay về

→ Bằng các hình ảnh so sánh độc đáo, giàu sức gợi, tác giả đã cho thấy vẻ đẹp và sức mạnh của tiếng Việt. Nó trở thành dòng chảy yêu thương muôn đời của tinh thần hòa hợp dân tộc, tâm hồn dân tộc và bản sắc văn hóa Việt Nam.

2.3. Cảm xúc của tác giả về tiếng Việt

Tác giả thấy mình “mắc nợ” tiếng Việt, “mắc nợ” bao thế hệ người Việt đã sáng tạo và bảo vệ thứ tiếng đẹp đẽ bằng biết bao mồ hôi, nước mắt và xương máu.

Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ

Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn

Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá

Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình.

– Khổ thơ cuối như một lời nhắn nhủ của tác giả với thế hệ sau: hãy giữ gìn, bảo vệ và phát triển tiếng Việt bởi đó không chỉ là tiếng nói mà đó chính là văn hóa, lịch sử, là điệu hồn của dân tộc Việt Nam.

→ Tác giả biết ơn và thấy mình phải có trách nhiệm bảo vệ tiếng Việt để trả cái “ân tình” mà cha ông đã gây dựng và giữ gìn suốt hàng ngàn năm lịch sử.

III. Tổng kết bài soạn văn Tiếng Việt lớp 9

1. Nghệ thuật

– Giọng thơ tha thiết, giàu cảm xúc với cách ngắt nhịp linh hoạt tạo nên sức cuốn hút cho bài thơ.

– Các hình ảnh so sánh độc đáo, sáng tạo.

2. Nội dung

Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của tiếng Việt đồng thời thể hiện thái độ trân trọng, yêu thương và khát vọng của tác giả trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó có tiếng nói. Bài thơ cũng là lời nhắc nhở thế hệ hôm nay cần biết gìn giữ và phát huy những giá trị của tiếng Việt trong cuộc sống hiện đại.

Hy vọng phần soạn bài Tiếng Việt lớp 9 tác giả tác phẩm ngắn nhất ở trên đã giúp các em hiểu rõ hơn về tác giả Lưu Quang Vũ và giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ Tiếng Việt. Từ đó, các em thêm yêu, thêm trân trọng tiếng mẹ đẻ và có ý thức giữ gìn, phát huy vẻ đẹp của tiếng Việt trong học tập cũng như trong cuộc sống hằng ngày.

Share

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Nguyễn Thị Thu Thanh
Em là chuyên viên Chăm sóc khách hàng của Tkbooks.
Em đang online. Anh chị cần hỗ trợ gì cứ nhắn ạ!
Nhắn cho em nếu anh chị cần hỗ trợ nhé!